Chiến tranh không gian ảo

10:16 |
Việt Long

Chiến tranh không gian ảo là gì? Đó là cuộc chiến tin học. Ngày nay mọi dữ kiện bí mật quốc gia, ngân hàng, kinh tế….trên mọi lãnh vực đều lưu trử trên máy tính điện toán hoặc điều khiển bởi máy tính điện toán. Mặc dù đã có mật mã hoặc được đội ngũ khoa hoạc ngành IT bảo vệ chống tin tặc (kacker), nhưng hacker vẫn có cách mò vào các trung tâm điện tóan chứa dữ liệu để tìm những tin tức bí mật hoặc ăn cắp những kỹ thuật tân tiến quốc phòng, hai đội tin tặc lớn nhất hiện nay ở Trung Cộng và Nga. Dưới đây là bài bình luận đến cuộc chiến tin học, nó còn quan trọng hơn cả chiến tranh nguyên tử.

“Quân đoàn hacker”

Tranh minh họa "chiến binh không gian ảo", cyber warrior

Công ty an ninh mạng Mandiant của Hoa Kỳ phổ biến một tài liệu 74 trang hôm thứ ba, tố giác quân đội Trung Quốc chỉ huy cả một đạo quân hàng ngàn tin tặc chuyên đánh phá các trang mạng, trước hết là các mạng của một số cơ quan truyền thông Mỹ, nhiều công ty sản xuất vũ khí quốc phòng, có cả một công ty điều hành phân phối 60% năng lượng điện, gas, xăng dầu cho toàn khu vực Bắc Mỹ.

Đây không phải lần đầu tiên có sự tố giác như vậy từ phía Hoa Kỳ, nhưng đến nay mới có một công ty tư nhân Mỹ chỉ đích danh quân đội Trung Quốc là thủ phạm.

Phần âm thanhhttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-listen.pnghttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-download.png

Tuy vậy không phải đến bây giờ chính quyền và quân đội Hoa Kỳ mới biết đến điều này hay chưa có biện pháp nào liên quan đến cuộc chiến tranh mạng.

Điều đặc biệt lần này là công ty Mandiant sau thời gian theo dõi điều tra thu thập dữ kiện đã có đầy đủ chứng cứ về việc đơn vị tin tặc 61398, mà báo chí Mỹ gọi là một “quân đoàn tin tặc” với hằng ngàn nhân viên, thuộc hệ thống chỉ huy của quân đội Trung Quốc, hoạt động từ một Tổng hành dinh là một building 12 tầng nằm trên đường Đại Đồng, quận Phố Đông của thành phố Thượng Hải.

Không phải cả ngàn nhân viên kỹ thuật cao đều có mặt ở đó cùng một lúc, mà đó là nơi đặt các máy chủ và bộ chỉ huy đơn vị, cùng một số nhân viên làm việc thường trực. Mandiant còn có cả một đoạn video mô tả hoạt động xâm nhập của một tin tặc vào hệ thống một công ty bằng cách nào.

Hoa Kỳ đã cảnh giác về những hoạt động xâm nhập trộm cắp như vậy, và đã có nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng có vẻ như chưa đủ.

Hôm lễ tấn phong Tổng thống Obama trong nhiệm kỳ thứ nhì, đài CBS nhân việc Tổng trưởng quốc phòng Leon Panetta sắp mãn nhiệm, đã hỏi ông Panetta về những thách đố nào đáng kể đối với nền quốc phòng của Hoa Kỳ trong lúc này. Ông nói ngay đầu tiên rằng “chiến tranh mạng sẽ là một thách đố lớn trong thời gian sắp tới”, sau đó mới nói đến những vấn đề Iran, Bắc Hàn.

Rồi hôm thứ ba 12 tháng này trong diễn văn State of the Union tại Quốc hội, Tổng thống Barrack Obama cũng nhắc đến chiến tranh mạng là một nguy cơ cụ thể, khi ông nói “ ngày nay kẻ thù của Hoa Kỳ cũng đang tìm cách để có khả năng phá hoại mạng lưới điện lực, các cơ sở tài chính, và cả hệ thống kiểm soát không lưu của Mỹ”. Hôm sau Tổng thống Obama ký sắc lệnh tăng cường an ninh không gian mạng và chống tin tặc.

Nhưng Tổng thống Obama vẫn không chỉ đích danh Trung Quốc, trong khi một viên chức cao cấp về quốc phòng của Hoa Kỳ lại so sánh mối đe dọa đó như “những trung tâm chỉ huy vũ khí hạt nhân ở quanh MátX-Cơ-Va” khiến nhiều người đã vội cho là ám chỉ Liên bang Nga.

Để rồi sau đó công ty Mandiant chỉ đích danh nhóm hackers thủ phạm dưới tên APT 1, viết tắt tên Advanced Persistent Threat, hay “Mối đe dọa lâu dài về kỹ thuật cao”, và nói rõ đầu não chủ quản của nó là Quân đội Nhân dân Trung Hoa.

Nhiều nước đã sử dụng

Chuyên viên Trung Quốc trước máy vi tính-
chinadefense.mashup.com photo

Vì sao người Mỹ không tố cáo đích danh từ đầu để thương lượng hay thách đố trở lại? Lý do là người Mỹ chỉ tố giác cụ thể khi có bằng chứng cụ thể; viên chức kia có thể muốn đánh lạc hướng Trung Quốc trong lúc cuộc điều tra sắp có kết quả.

Thêm vào đó, Trung Quốc thường áp dụng chiến thuật tố ngược lại đối thủ những tội trạng y hệt, như khi bị tố giác xâm phạm nhân quyền thì Bắc Kinh liền tố ngược Hoa Kỳ cũng xâm phạm nhân quyền, kỳ thị người thiểu số, dù đối thủ của Bắc Kinh có làm việc đó hay không. Lần này phát ngôn viên Hồng Lỗi cũng nói Trung Quốc cũng là nạn nhân của tin tặc, do những máy phát xuất từ Hoa Kỳ.

Sự thật thì ai cũng thấy công ty Mandiant của Hoa Kỳ vừa công bố kết quả điều tra sau khi xâm nhập “quân đoàn tin tặc” của Bắc Kinh, trong khi giới bất đồng chính kiến và người thuộc sắc dân bị đô hộ cũng có đánh phá nhiều trang mạng của chính quyền Trung Quốc.

Thực ra Hoa Kỳ và một số quốc gia khác cũng có những hoạt động chiến tranh mạng, nhưng không trực tiếp nhắm vào với Trung Quốc. Người ta tin là Hoa Kỳ và Israel sử dụng Stuxnet, là một phần mềm lợi hại, để làm tê liệt công việc tinh chế uranium của Iran.

Máy ly tâm tách hạt của Iran đã chạy tán loạn không điều khiển được, khiến Iran phải ngưng công tác này một thời gian đến khi giải quyết được vũ khí chiến tranh mạng Stuxnet. Một viên chức Mỹ dấu tên có xác nhận điều này với đài truyền thanh NPR.

Năm 2009, chủ tịch HĐAN quốc gia Georgia, bà Tkeshelashvili, thuyết trình trước hội nghị của cơ quan an ninh GovSec của Hoa Kỳ tại Washington rằng người Nga vào năm 2008 đã tấn công Georgia trên bốn mặt trận: hải, lục, không quân và không gian mạng.

Cuộc tấn công mạng không để lại dấu vết nào của chính quyền hay quân đội Nga, vì hacker toàn là những nhân viên dân sự được mô tả là đội ngũ chuyên viên có tài năng phục vụ thiện nguyện cho xứ sở, mà thực ra là những nhân viên được tuyển mộ để mở mặt trận thứ tư, tuy người ta không thể tìm bằng chứng về điều đó.

Hoa Kỳ công bố chính sách chung về chiến tranh không gian mạng là phòng thủ. Lầu Năm Góc tuyên bố không muốn dùng chiến tranh mạng cho những mục đích thù nghịch.

Tuy vậy giới truyền thông Mỹ cũng ghi nhận một vài lần có những sĩ quan cao cấp của Hoa Kỳ tiết lộ việc sử dụng biện pháp xâm nhập mạng của các lực lượng đối thủ.

Sinh viên sĩ quan không quân Hoa Kỳ thao luyện
chiến tranh không gian ảo - af.mil photo

Chuyên viên của Hoa Kỳ đã vào không gian mạng của phiến quân Taliban ở Afghanistan, đọc được những lệnh chỉ huy và kế hoạch của phiến quân.

Năm 2009 một tướng lãnh Hoa Kỳ tiết lộ với đài NPR là không quân Mỹ đang chuẩn bị kế hoạch tấn công vào mạng của hệ thống radar và hỏa tiễn phòng không của một nước khác. Vị tướng này còn nói quân đội Mỹ đã có sẵn khả năng đó.

Một sĩ quan không quân khác cũng cho NPR biết cuộc tấn công trên không gian mạng được sử dụng bên cạnh những cuộc oanh kích của không quân, và biện pháp chiến tranh này dễ được sử dụng thường xuyên hơn và tự do hơn những hành động quân sự như oanh tạc hay tấn công vào mục tiêu bằng các hình thức khác.

Một chuyên gia của đại học Yonsei ở Seoul khi được báo chí Mỹ hỏi đã nói rằng ông có nghe tin vụ phóng thử hỏa tiễn của Bắc Hàn hồi tháng tư năm ngoái đã bị phá hỏng bằng cuộc tấn công không gian mạng, nhưng ông nói thêm đó chỉ là giả thuyết không chắc chắn.

Dù sao, điều chắc chắn là các nước đều chuẩn bị cho chiến tranh không gian mạng. Nói sao chăng nữa thì ai cũng biết Trung Quốc đã dùng hackers xâm nhập mạng để lấy thông tin kỹ thuật của hằng chục công ty chế tạo vũ khí quốc phòng, một số công ty thuộc kỹ nghệ sản xuất, công ty kỹ nghệ không gian, cơ quan NASA, cả kỹ nghệ xe hơi…

Rõ nhất là những diễn tiến trên thương trường quốc tế chứng tỏ nhiều điều khoản hợp đồng thương mại hay đấu thầu của các công ty Hoa Kỳ đã bị Trung Quốc lấy trộm.

Hacker của Trung Quốc lấy cắp qua mạng hay bằng cách tuyển mộ những nhân viên cao cấp cũ nắm giữ những kiến thức kỹ thuật hay những thông tin mật về thương mại của những công ty tư nhân và có thể của những cơ quan chính quyền, quân sự, khoa học của Hoa Kỳ.

Công ty Coca Cola đã bị mất mối hợp đồng sáp nhập lớn nhất ở Trung Quốc vì thông tin thương mại bị tiết lộ qua một trong những ngã đó, mà ngã đường không gian mạng có nhiều dấu vết nhất.

Thông tin về khoa học, quân sự và vũ khí mà Trung Quốc lấy được có giá trị tới đâu, thực hay giả, thì tới khi làm ra và thí nghiệm những vũ khí đó để thấy chúng có hiệu quả hay vô dụng, hay phản tác dụng thì mới biết cuộc chiến tình báo trên không gian mạng nghiêng phần thắng về đâu.

Tuy nhiên tới nay người ta tin rằng Bắc Kinh đã lấy cắp được nhiều phần mềm điểu khiển vũ khí từ Mỹ là nguồn chính, cùng với nguồn gốc trộm cắp từ nhiều quốc gia khác.

Không gian ảo quyết định chiến thắng

Ta thử tưởng tượng một nước nào đó phóng hỏa tiễn hạt nhân lên, nhưng hỏa tiễn bị phản-lập-trình để quay ngược lại căn cứ xuất phát; hay hệ thống vệ tinh định vị GPS của Hoa Kỳ bị vô hiệu hóa vào lúc giao chiến, toàn bộ hải lục không quân đều trở thành mù lòa, các hạm đội và phi đoàn không biết mình đang bay đang chạy nơi đâu, đến tọa độ nào, vũ khí bắn ra không biết đường nào tìm đến mục tiêu bằng tọa độ địa lý…

Và không ai liên lạc được với ai khi các vệ tinh truyền tin bị hack, hệ thống chỉ huy liên lạc bị vô hiệu hóa trong thời gian quyết định, cho đến khi được phục hồi bằng các phương tiện cổ điển dự phòng thì có khi đã muộn…

Chiến tranh không gian ảo - foreignpolicy image

Những độc chiêu này chắc chắn phải được các bên giữ tuyệt mật, chỉ vào lúc khai chiến mới biết mình và đối phương ai thắng ai trong những chiêu thức phù thủy “hô phong hoán vũ, thiên biến vạn hóa” ấy.

Sân chơi bình đẳng

Chiến tranh trên không gian ảo là cuộc chiến tình báo quyết định chiến trường thế giới trong tương lai không xa, trong bối cảnh các bên đều có lực lượng cân bằng hay tương đương về vũ khí, chiến cụ. Nhưng chiến tranh mạng với giá trị quyết định như vậy lại là hình thái chiến tranh ít tốn kém nhất.

Vũ khí của cuộc chiến này chỉ có một thứ: đầu óc thông minh của con người, bên cạnh đó là những máy computer mà giá vài ba trăm chiếc cũng không bằng một chiến đấu cơ tối tân hay tàu ngầm loại nhỏ.

Mọi dân tộc đều thừa khả năng tiến hành cuộc chiến trên những computer ngoại hạng, mà chiến sĩ là những chuyên viên programmer chuyên nghiệp được huấn luyện nhiều năm, có tinh thần yêu nước và trung thành tuyệt đối, còn phải được kiểm soát bằng hệ thống an ninh cảnh giới cao nhất của quốc gia.

Tuy vậy, chiến tranh không gian ảo dẫu là tương lai chiến tranh của loài người, nó vẫn phải đi song song với kỹ thuật vũ khí tối tân siêu việt, nếu không, sẽ chỉ là những âm binh ảo vô hình không thể chinh phục được một mục tiêu sống thực nào.

Bài của Việt Long / RFA
-------------------------------
Read more…

Cộng hoà Nhân dân Tin tặc

06:04 |
Adam Segal

Chiến dịch tấn công mạng của Trung Quốc đã đạt đến mức đại dịch. Có thể làm được gì để ngăn chặn nó?

Trong một câu chuyện trọng đại đang trở thành bình thường một cách đáng buồn, tờ New York Times tường thuật rằng tin tặc Trung Quốc đã “liên tục” tấn công tờ báo, “đột nhập hệ thống máy tính của họ và đánh cắp mật mã của phóng viên và những nhân viên khác.” Các cuộc tấn công bắt đầu vào khoảng thời gian các nhà báo đang chuẩn bị đăng câu chuyện về tài sản khổng lồ được cho là được tích tụ bởi gia đình của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, nhưng phương pháp, chân tướng và mục tiêu rõ ràng của những tin tặc này cũng đã từng được nhận diện qua những tấn công trước đây vào các nhà thầu quốc phòng, các công ty công nghệ, các nhà báo, học giả, các viện nghiên cứu, và các tổ chức phi chính phủ. Hãng tin Bloomberg, từng đăng tải một câu chuyện về sự giàu có của Tập Cận Bình, lãnh đạo tối cao của Trung Quốc, cũng được báo là đã bị tấn công. Trong khi chỉ có một trường hợp trong chiến dịch tấn công mạng dữ dội là có vẻ lan tràn, cuộc tấn công vào tờ Times cho thấy Bắc Kinh sẵn sàng vươn tay để nhào nặn việc đề cập đến hình ảnh Trung Quốc cũng như tính nhạy cảm của giới lãnh đạo tối cao về chuyện họ được mô tả như thế nào.

Cũng như nhiều trường hợp gián điệp mạng, việc đột nhập này được cho là đã bắt đầu bằng kỹ thuật lừa đảo bằng email (spear-phishing), một bức thư giả mạo có đính kèm mã độc hoặc có nguồn dẫn tới những trang chuyên phá hoại. Ví dụ như trong trường hợp tấn công vào công ty an ninh RSA vào năm 2011, một email với đầu đề “Kế hoạch Tuyển nhân viên 2011” đã được gửi với một hồ sơ viết bằng chương trình Excel đính kèm. Việc mở hồ sơ sẽ tải theo phần mềm cho phép tin tặc làm chủ máy tính của người sử dụng. Sau đó chúng dần dần mở rộng thâm nhập và chuyển sang những máy và hệ thống khác.

Một khi vào được bên trong, tin tặc sẽ lan toả khắp nơi và hầu như không theo dõi được. Ví dụ như những tin tặc có liên quan trong vụ tấn công nhà thầu quốc phòng Anh là BAE Systems được cho là đã nằm trong hệ thống của họ suốt 18 tháng trước khi bị phát hiện; trong thời gian ấy chúng đã theo dõi những cuộc họp trực tuyến và những thảo luận về kỹ thuật qua việc sử dụng web-cam và microphone trên máy. Theo Jill Abramson, tổng biên tập của tờ Times, không có bằng chứng về những thông tin nhạy cảm liên quan đến việc tường thuật chuyện gia đình Ôn Gia Bảo đã bị đánh cắp, nhưng trong những trường hợp trước đấy tin tặc từng mã hoá thông tin khiến các nhà điều tra phải chật vật để biết được thứ gì thực sự đã bị lấy đi.

Bằng chứng về việc các tin tặc có cơ sở từ Trung Quốc trong tất cả các trường hợp này chỉ mang tính gợi ý, không có kết luận rõ rệt. Một số mã nguồn được sử dụng trong những tấn công này được viết bởi những nhóm tin tặc Trung Quốc và những khởi điểm của nhóm mã chỉ huy và mã vận hành đã được truy ngược đến những địa chỉ IP tại Trung Quốc. Được biết là những tin tặc này bắt tay làm việc vào buổi sáng giờ Bắc Kinh, và nghỉ việc vào buổi chiều, và thường xuyên lấy ngày nghỉ vào dịp Tết Nguyên đán cũng như những ngày lễ quốc gia của Trung Quốc. Nhưng các cuộc tấn công có thể được chuyển tuyến qua nhiều máy tính, mã độc được mua bán trên thị trường chợ đen, các nhóm tin tặc thường trao đổi kỹ thuật, và một trong những thói quen được tự hào của tin tặc là chúng thường làm việc với giờ giấc bất thường.

Có lẽ bằng chứng thuyết phục nhất là loại thông tin bị nhắm vào. Các email và tài liệu từ văn phòng của Đức Dalai Lama và các nhà đấu tranh Tây Tạng, các công ty kỹ nghệ quốc phòng, các toà đại sứ nước ngoài, những nhà báo và các viện nghiên cứu thường không dễ kiếm tiền và vì thế rõ ràng là không hấp dẫn mấy đối với loại tin tặc hình sự. Những thông tin trên được chính quyền Trung Quốc quan tâm hơn nhiều.

Bắc Kinh đang đẩy sức mạnh Internet của mình ra khỏi Trung Quốc để đặt lên trên toàn thế giới. Trong nước, họ kiểm soát luồng thông tin trên mạng bằng công nghệ kiểm duyệt và thanh lọc cũng như tìm cách chuyển hướng thảo luận hoặc khoả lấp tiếng nói chống đối trên các mạng xã hội bởi những bình luận viên ăn lương chính phủ, còn có cái tên là Đảng 50 Xu, thể theo giá cả được trả cho mỗi bài đăng trên mạng. Vụ tấn công tờ New York Times và những vụ khác cho thấy sự mong muốn nhào nặn những câu chuyện chính trị quốc tế cũng như thu thập thông tin từ những ai có thể ảnh hưởng đến những thảo luận với chủ đề mà Bắc Kinh cho là quan trọng. Sự lo ngại của tờ Times rằng những tin tặc này có thể đánh sập trang mạng của họ trong đêm bầu cử cho thấy một nỗ lực hăm doạ cũng như gây ảnh hưởng của tin tặc.

Điều giống nhau một cách đáng buồn từ những trận tấn công này là việc thảo luận cần nên làm gì. Trong vài năm qua, các quan chức chính phủ Hoa Kỳ đã phát động một chiến dịch công khai ngày càng lớn để nêu đích danh và làm bẽ mặt Trung Quốc.Nhưng việc này mang lại ít hiệu quả, và chính quyền Trung Quốc luôn chối bỏ, gọi những cáo buộc này là “vô trách nhiệm” và lưu ý rằng hành vi tin tặc là phạm pháp theo luật lệ của Trung Quốc, và cũng chỉ ra rằng Trung Quốc cũng là nạn nhân của tội phạm trên mạng mà đa số đến từ các địa chỉ IP ở Nhật, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.

Vậy có thể làm được điều gì? Các chuyên gia an ninh tư nhân và quan chức chính phủ Hoa Kỳ nói rằng họ có tiến bộ hơn trong việc nhận diện những cá nhân và nhóm tin tặc. Nếu thế, Hoa Kỳ nên bắt đầu nghĩ đến việc nhắm vào các biện pháp cấm vận tài chính hoặc giới hạn thị thực nhập cảnh đối với những tin tặc được nhận diện. Tuy nhiên, điều có thể gây khó khăn nhất cho Bắc Kinh là các nỗ lực của giới tư nhân và chính phủ trong việc bảo đảm những bài tường thuật tầm cỡ như New York Times và Bloomberg được truyền bá rộng rãi bên trong Trung Quốc qua việc chuyển ngữ và những nỗ lực vượt qua bức Đại Tường Lửa Trung Quốc. Những bức điện ngoại giao Hoa Kỳ do WikiLeaks đăng tải cho thấy cuộc tấn công vào Google vào tháng Giêng năm 2010 là do lệnh của một thành viên Bộ Chính trị, vị này đã “gõ tên mình vào trong phiên bản toàn cầu của bộ máy tìm kiếm này và tìm thấy những bài viết chỉ trích cá nhân ông ta.” Ôn Gia Bảo và Tập Cận Bình có thể đã có phản ứng tương tự.

Adam Segal
Diên Vỹ
chuyển ngữ

Nguồn: The People's Republic of Hacking - Foreign Policy
Read more…

Khoa học Việt Nam mắc kẹt trong phi chuẩn mực, hành chính hóa và tư duy ăn xổi

13:18 |
Phạm Duy Hiển [*]

Việt Nam là nước đi sau về khoa học và công nghệ (KH-CN). Ta du nhập cách làm KH-CN, ban đầu từ các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu (ở miền Bắc), gần đây từ các nước tư bản Âu-Mỹ. Ý thức hệ và thiết chế của hai hệ thống hoàn toàn khác nhau, song tư duy và cách nghiên cứu khoa học lại khá giống nhau. Học họ, nhưng ta chẳng giống ai, có chăng chỉ là những bề nổi bên ngoài, như các danh hiệu giáo sư, tiến sỹ, còn cốt lõi bên trong thì theo cách tư duy của mình.

Từ chối chuẩn mực phổ quát trong nghiên cứu khoa học

Ở nước ngoài, chức danh tiến sỹ khẳng định anh đã vượt qua những đòi hỏi gắt gao về học thuật để có thể bắt đầu theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, hoặc giảng dạy đại học. Ở ta, thiếu tấm bằng tiến sỹ chẳng những không vênh vang được với thiên hạ mà không thể chen chân vào nhiều chức quan. Có nơi còn quy định 50% cán bộ thuộc thành ủy quản lý phải có bằng tiến sỹ (TuanVietnam.net, 29/10/2012). Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020 Việt Nam phải có sáu vạn tiến sỹ để đáp ứng quy mô mở rộng hệ thống đại học với 450 sinh viên trên một vạn dân, không cần biết hiện có bao nhiêu người hướng dẫn và phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu. Cách quy hoạch ngược đời này đang lạm phát ồ ạt bằng tiến sỹ, thực học không cần, chuẩn mực khoa học bị gạt bỏ, chưa kể bằng dởm, viết luận án thuê, đang tràn lan (ANTĐ, 28/10/2012).

Ở nước ngoài, giáo sư phải là người sáng tạo ra tri thức mới qua hàng loạt công trình được đồng nghiệp khắp nơi trên thế giới trích dẫn và sử dụng. Ở ta, trong Quy chế bổ nhiệm giáo sư mới sửa đổi gần đây để tiến gần hơn đến thông lệ quốc tế vẫn chưa có điểm sàng tối thiểu, chẳng hạn yêu cầu giáo sư phải có một vài bài báo quốc tế. Giáo sư ở ta được tính điểm khoa học chủ yếu dựa trên 900 ấn phẩm nội địa, nhưng chưa có tạp chí nào trong số này, kể cả những tạp chí tiếng Anh, lọt vào Web of Knowledge của Thomson Reuter (ISI). Đây là cơ sở dữ liệu chứa những thông tin cơ bản về các công trình khoa học có phản biện quốc tế đăng trên một vạn tạp chí hàng đầu, bao quát mọi ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, nhân văn và nghệ thuật.

Tuy không đâu quy định chính thức, song ISI được giới khoa học khắp nơi xem như chuẩn mực, một bộ lọc bảo đảm chất lượng đội ngũ nghiên cứu khoa học, qua đây khẳng định chỗ đứng của nhà khoa học trên mặt tiền thế giới. Các tổ chức quốc tế cũng dựa vào số bài báo có phản biện quốc tế và số bằng sáng chế để xếp hạng đại học, trình độ khoa học và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Cách làm này chưa thể xem là tuyệt hảo, song tương tự như GDP, tuy còn khiếm khuyết vẫn được dùng làm thước đo sức mạnh của nền kinh tế. Cho nên né tránh các diễn đàn khoa học quốc tế chẳng khác nào vận động viên cấp quốc gia chê đấu trường Olympic.

Mãi gần đây, công bố quốc tế mới được dùng làm căn cứ để đánh giá các đề tài khoa học cơ bản. Nhưng công bố quốc tế lại không đòi hỏi đối với các nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật, xã hội, nhân văn chiếm hầu hết ngân sách và nguồn nhân lực khoa học của đất nước, lại có tác động trực tiếp đến quốc kế dân sinh. Các ngành xã hội nhân văn chiếm ba phần tư số ấn phẩm khoa học nội địa hầu như không có mặt trên các tạp chí quốc tế. Các kết quả nghiên cứu này đúng sai đến đâu, rất khó biết. Trong nhiều thập kỷ gần đây diện mạo khoa học xã hội nhân văn trên thế giới đã thay đổi hoàn toàn nhờ có sự xâm nhập của toán học và các khoa học tự nhiên. Nhiều hướng nghiên cứu đa ngành xuất hiện, khoa học tự nhiên và xã hội đan xen nhau, không thấy đâu phân chia riêng rẻ như ở ta. Khoa học xã hội nhân văn của ta đang lạc lỏng khỏi thế giới.

Vì sao cho đến nay các diễn đàn khoa học quốc tế không được chấp nhận? Trong số các giáo sư được bổ nhiệm mấy năm gần đây chỉ những người làm Toán và Vật lý có 4-5 bài báo quốc tế trở lên, đa số những giáo sư nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật và xã hội, nhân văn chỉ công bố công trình trong nước. Nhiều người trong số này lập luận rằng nghiên cứu ứng dụng cốt mang lại lợi ích kinh tế thiết thực, cần gì những mục tiêu hàn lâm. Lập luận này phù hợp với quan điểm nhiều người trong giới quản lý và các cơ quan cấp kinh phí, nên có tác động đến chính sách.

Trên thực tế rất khó đánh giá một công trình nghiên cứu mang lại “lợi ích kinh tế thiết thực” bằng cách nào (xem phần sau). Vả lai, trong số hàng triệu công trình nghiên cứu hàng năm trên thế giới chỉ một số rất ít có tiềm năng trực tiếp tạo ra những ứng dụng nào đó. Trong khi đó, nghiên cứu khoa học có sứ mạng tìm ra tri thức mới, mà cái mới lại rất dễ khẳng định qua bài báo có phản biện quốc tế. Những khám phá trong khoa học cơ bản là tri thức mới đã đành, những quy luật tự nhiên, xã hội ở Việt Nam mà thế giới chưa biết, những phiên bản ứng dụng có thêm phát hiện mới trong điều kiện cụ thể ở nước ta … vẫn cứ rất mới với thế giới, miễn là nhà khoa học phải am tường mọi kết quả nghiên cứu và phương pháp luận hiện đại nhất, từ đó tìm được chỗ đứng dành cho kết quả nghiên cứu của mình trên mặt tiền khoa học.

Cũng phải thừa nhận rất khó tìm được chỗ đứng trên mặt tiền khoa học nếu không có thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Chính khó khăn này giải thích tại sao công bố quốc tế của Việt Nam nghiêng hẳn về Toán và các môn lý thuyết. Số bài báo quốc tế về khoa học thực nghiệm, ứng dụng và kỹ thuật quá ít, không tương xứng với quy mô nhân lực và đầu tư, và ít hơn hẳn các nước xung quanh như Thái Lan, Malaysia.

Bước đột phá trong chiến lược KH-CN 2011-2020

Gần đây lãnh đạo Bộ KHCN đã tạo ra bước đột phá rất đáng mừng, chính thức khẳng định công bố quốc tế là thước đo năng lực nghiên cứu khoa học của đất nước. Chiến lược KH-CN 2011-2020 (sau đây gọi tắt là Chiến lược) nêu rõ mục tiêu (thứ hai) tăng số lượng công bố quốc tế từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước trung bình 15-20%/năm. Mục tiêu thứ năm lại ghi rõ đến năm 2020 hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giớí.

Tăng số lượng công bố quốc tế 15-20%/năm là mục tiêu hoàn toàn khả thi, Ngay trong mười năm 2000-2009 chúng ta đã đạt tốc độ 15-16%/năm, ngang với Thái Lan và Malaysia, chỉ kém Trung Quốc (20%/năm), nhưng nhanh hơn Philippine và Indonesia (5,7%/năm). Song số lượng công bố quốc tế chưa phản ảnh đầy đủ năng lực nghiên cứu và hiệu quả đầu tư cho khoa học của một quốc gia. Phân tích các công bố quốc tế của Việt Nam và 11 nước Đông Á cho thấy chất lượng các bài báo (dựa trên chỉ số trích dẫn trung bình) của Việt Nam còn thấp, nhiều ngành trực tiếp liên quan đến quốc kế dân sinh chưa có công bố quốc tế, và phần lớn đồng tác giả Việt Nam không đóng vai trò chính trong các công trình. Số công trình do nội lực chỉ chiếm 30%, vào loại thấp nhất khu vực, so với 90% ở Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan (xem bài “A comparative study of research capability of East Asian countries and implication for Vietnam” đăng trên Higher Education, Vol. 60, trang 615-625, bản dịch tiếng Việt trên Tia Sáng, 22/06/2010).

Bước đột phá trong “Chiến lược” sẽ đưa chúng ta thoát khỏi tình trạng lạc lỏng bấy lâu nay để sớm sánh vai với các nước, nhanh chóng tiếp cận mặt tiền khoa học. Song muốn đạt được các mục tiêu trong “Chiến lược” cần có những đột phá mới để khoa học Việt Nam khỏi bị mắc kẹt trong những tư duy, cơ chế và cơ cấu tổ chức bất cập hiện nay.

Hành chính hóa hoạt động nghiên cứu khoa học

Chỉ bám vào nguồn kinh phí duy nhất từ ngân sách nhà nước, lại thiếu chuẩn mực nghiêm túc, hoạt động nghiên cứu khoa học rơi vào tình trạng hành chính hóa, do các quan chức hành chính cầm cân nẩy mực. Họ là những người chưa hề nghiên cứu khoa học, hoặc nếu xuất thân từ giới khoa học, họ sẽ ném ngay “hòn gạch gõ cửa” sau khi lọt vào chốn quan trường (Lỗ Tấn, Khổng Phu tử ở Trung Quốc đời nay, bản dịch Phan Khôi). Đối với nhiều người trong số họ, khoa học giờ đây chỉ còn là chiếc áo khoác bên ngoài, bên trong là danh, quyền và tiền, những cạm bẫy rất ít ai thoát khỏi.

Hành chính hóa nghiên cứu khoa học đặt ra luật chơi hành chính. Đề tài các cấp vận hành theo kiểu hợp đồng kinh tế như ra đầu bài, đấu thầu, tuyển chon, kiểm tra tiến độ v.v…Kinh phí được quyết toán dựa trên số ngày công khai báo cho từng thành viên tham gia, số trang dịch thuật, tiền thuê mướn nhân công, vật tư, hóa chất tiêu hao v.v… Sản phẩm phải mục sở thị như quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn nhà nước, phần mềm, số cơ sở sử dụng các kết quả v.v…. Để được nghiệm thu lại phải có đầy đủ các chứng từ, hóa đơn thanh toán hợp “lệ”. Chỉ có bài báo quốc tế là không đòi hỏi.

Bởi bài báo quốc tế yêu cầu cao hơn hẳn. Đó là phát hiện mới (new findings), tính độc đáo (originality), góp phần đẩy hướng nghiên cứu lên phía trước (significant advances in field) và phương pháp luận hiện đại (state-of- the art approach). Không cần hội đồng đông người, chỉ một trong hai phản biện lắc đầu, bài báo sẽ bị từ chối. Rõ ràng từ đề tài được Bộ KH-CN nghiệm thu đến bài báo quốc tế được chấp nhận là một khoảng cách rất xa, đầy thách thức, nhiều người đành bỏ cuộc vì không còn kinh phí và thời gian, họ phải lao tiếp vào đề tài mới để tồn tại.

Song những đề tài, luận án nói trên lại được dùng làm căn cứ bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư. Theo Quy chế, giáo sư phải hướng dẫn chính ít nhất hai nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chủ trì ít nhất một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ hoặc đề tài cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên. Các tân giáo sư sẽ được phân vai mới trong hệ thống hành chính, chủ trì các đề tài, dự án, chương trình nhà nước, có tiếng nói nặng cân hơn trong các hội đồng xét duyệt và nghiệm thu. Cuộc chơi trên sân nhà có thêm vai diễn mới, không thấy hồi kết.

Hành chính hóa nghiên cứu khoa học bộc lộ nhiều lỗ hổng làm nơi ẩn chứa cơ chế xin cho, ban phát, vốn là sản phẩm của thời bao cấp. Thời nay, mỗi đề tài, dự án cấp Bộ trở lên thường được cấp từ hàng trăm triệu đến hàng chục tỷ đồng, nên không còn ai ban phát vô tư nữa, kẻ cho người nhận đều phải biết hành xử theo “luật thị trường”. Có hội đồng khoa học để xét duyệt và nghiệm thu, nhưng hội đồng lại do chính bộ máy hành chính lập ra để dễ dàng hợp thức hóa các ý định của mình. Hội đồng chỉ bàn về học thuật không tham gia xét duyệt kinh phí cho đề tài, việc này thường được dàn xếp giữa người ban phát và người nhận. Tiếng nói chính trực thường là thiểu số và sẽ không có cơ hội trong các lần sau.

Dễ hiểu tại sao nạn gian dối – điều tối kỵ nhất trong khoa học – lại lên ngôi trong những năm gần đây. Khai gian, khai khống các khoản chi là chuyện thường tình. Mọi người đều gian dối nên không ai phải xấu hổ. Bịa số liệu, đạo văn, thuê viết luận án …, ngày càng phổ biến. Nhóm lợi ích hình thành qua các đề tài dự án, che chắn nhau rút ruột kinh phí nhà nước. Phi chuẩn mực và hành chính hóa làm cho môi trường học thuật ở nước ta ngày một tù mù, vàng thau lẫn lộn, nghiên cứu khoa học trở nên tùy tiện, đề tài nào, công trình nào cũng xem là nghiên cứu, hội thảo nào cũng có thể gán thêm mác khoa học. Báo chí và xã hội không phân biệt được thực và giả, nhà khoa học đích thực với những người khoác áo khoa học.

Từ môi trường học thuật này không thể xuất hiện đỉnh cao mà chỉ có số đông làng nhàng, thiếu chuyên nghiệp. Lao vào quan trường là con đường tiến thân độc đạo, số người theo đuổi học thuật đến cùng hiếm dần, thành phần ưu tú ngày càng vắng bóng trong lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học và ngay ở những cơ quan đầu não về KH-CN. Rất đông tài năng trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài không tìm thấy đất dụng võ khi trở về nước. Thực trạng này liệu các nhà lãnh đạo có biết?

Không thành công trong nội địa hóa công nghệ

Nhà nước có chủ trương nội địa hóa công nghệ, nhưng thiếu quyết sách. Hàng điện tử và công nghệ cao là mủi nhọn xuất khẩu, dự kiến đến 2020 kim ngạch lên đến 45% để minh chứng cho mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện đại của đất nước. Riêng chín tháng đầu năm 2012 kim ngạch xuất khẩu lên đến 15 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch. Song phần lớn là sản phẩm từ các doanh nghiệp nước ngoài, và đằng sau những con số ấn tượng trên là một sự thật ê chề: “trong mặt hàng này các doanh nghiệp Việt Nam nhập 100% linh kiện nước ngoài…, phần nội địa hóa chỉ là vỏ nhựa, thùng các tôn và xốp” (SGGP, 25/9/2012).

Về cơ khí, nội địa hóa công nghiệp ô tô trong hơn hai thập kỷ qua chỉ đạt vài phần trăm (Vneconomy, 03/07/2012), xem như thất bại. Công bằng mà nói, thành tích nội địa hóa công nghệ ấn tượng nhất chính là mấy con tàu trọng tải 50 nghìn tấn được VINASHIN cho hạ thủy và xuất khẩu. Nhưng VINASHIN vỡ nợ, gây hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Các học giả có dịp ném đá vào đống đổ nát mà ít ai quan tâm nhặt ra từ đó bài học nội địa hóa công nghệ thành công hay thất bại.

Có nhiều lợi thế hơn VINASHIN, nhưng TKV và EVN cũng không chịu nội địa hóa công nghệ. Theo Quyết định 167/2007/QĐ- TTg, hàng chục nhà máy chế biến alumina sẽ được xây dựng từ năm 2007 dến 2025 trên Tây Nguyên, nhưng không có từ ngữ nào nhắc đến lộ trình nội địa hóa công nghệ, trong khi Việt Nam sở hữu một tiềm năng bô xít lớn thứ năm thế giới. Chính phủ cũng không yêu cầu TKV hứa hẹn đến bao giờ sẽ có công nghệ Việt Nam. Mẻ alumina đầu tiên đang chậm tiến độ hơn hai năm, và trên thực tế cả đại dự án bô xit đang gặp bế tắc, chính phủ phải rút quy mô chỉ còn hai nhà máy thí điểm. Một kết quả nhãn tiền, bởi không chỉ công nghệ, mà cả khoa học cũng đứng ngoài. Bao nhiêu bài toán kinh tế, kỹ thuật, môi trường, xã hội … chưa được nghiên cứu thấu đáo trước khi ra Quyết định.

Hàng chục nhà máy điện chạy than được EVN xây dựng trên khắp cả nước đều rơi vào tay nhà thầu nước ngoài. Không biết đến bao giờ mới thấy tua bin và máy phát điện do người Việt tự chế tạo. Trong khi đó, EVN đi tắt đến thẳng điện hạt nhân, đề xuất đưa vào vận hành hàng chục lò phản ứng từ 2020 đến 2030. Nhiều ý kiến phản bác hoặc đề nghị đình hoãn kế hoạch mạo hiểm này sau khi xảy ra thảm họa Fukushima. Nhưng chúng đều lọt thỏm trong luồng dư luận phải làm điện hạt nhân mới có quốc phòng mạnh, mới có nước Việt Nam hiện đại vào năm 2020.

Thành ra hiện đại hay không là ở người tiêu dùng. Nói nôm na, với chiếc iphone 5S bên tay lái Mercedes ngày một phổ biến trên các xa lộ nước ta, người Việt cũng hiện đại không kém người Mỹ, người Đức. Đó là nhờ ta biết đi tắt đón đầu, đúng như lời một vị Bộ trưởng dõng dạc thuyết phục Quốc Hội trước đây ba năm: “xây dựng đường sắt cao tốc Bắc –Nam chính là phương án đi tắt đón đầu lên thẳng hiện đại”.

Không có bằng sáng chế

Không có sản phẩm từ công nghệ Việt Nam, bằng sáng chế cũng không có nốt. Việt Nam hầu như không có bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ (US Patent and Trademark Office, US PTO). Trong khi đó, năm 2011 Indonesia và Philippines sở hữu hàng chục bằng, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc còn nhiều hơn gấp bội. Báo chí đổ lỗi cho 9000 giáo sư/ phó giáo sư (VietnamNet, 5/11/2012) khiến mọi người có dịp mang các vị ra đàm tiếu mà không biết rằng nghiên cứu khoa học khác nghiên cứu công nghệ. Sản phẩm nghiên cứu khoa học là tài sản chung cho mọi người cùng sử dụng, bằng sáng chế là bí quyết công nghệ của doanh nghiệp được bảo vệ và mua bán thông qua cơ quan đăng ký. Chính doanh nghiệp, chứ không phải tác giả, phải bỏ tiền ra để đăng ký bằng sáng chế và hưởng lợi từ việc mua bán nầy.

Đâu phải làm thơ, nhà khoa học lấy đâu ra bằng sáng chế khi doanh nghiệp không yêu cầu. Thiếu bằng sáng chế chứng tỏ trình độ quá thấp của nền công nghiệp nước nhà. Chúng ta chỉ du nhập công nghệ từ nước ngoài để sản xuất, mà không nội địa hóa để có công nghệ của mình. Nếu cần thay thế công nghệ, doanh nghiệp sẽ đi mua, hơn là đầu tư nghiên cứu.

Tư duy ăn xổi

Dù sao, thiếu bằng sáng chế cũng đặt ra dấu hỏi về tính thiết thực và hiệu quả của nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam hai thuật ngữ khoa học và công nghệ luôn gắn với nhau, thậm chí đồng nhất với nhau trong cùng một khái niệm như thị trường khoa học công nghệ, hội chợ khoa học công nghệ v.v… Chính sự nhập nhằng này trong tư duy làm cho nghiên cứu công nghệ đích thực vẫn là bãi đất trống. Đây là hệ quả của tư duy ăn xổi, muốn nghiên cứu khoa học phải cho ra ngay sản phẩm trên thị trường.

Khoa học và công nghệ hỗ trợ lẫn nhau, nghiên cứu khoa học tạo ra mảnh đất cho công nghệ phát triển, và ngước lại. Tuy nhiên ngay trong số hàng triệu bài báo khoa học công bố hàng năm trên thế giới, rất ít công trình có tiềm năng tạo ra công nghệ hay dịch vụ. Nếu có, còn phải trải qua nhiều khâu, đòi hỏi thời gian, công sức và kinh phí. Kết quả nghiên cứu phải được kiểm nghiệm và củng cố bằng nhiều nghiên cứu mới tiếp theo, bảo đảm chất lượng (QA), prototype, quy mô pilot, thử sai (trial by error) nhiều lần trước khi đưa ra ứng dụng. Tư duy ăn xổi bỏ qua các khâu quan trọng này, nên nghiên cứu khoa học sinh ra những đứa trẻ đẻ non, chết yểu, làm thất thoát nguồn kinh phí lớn của nhà nước. Bao nhiêu đề tài chế tạo thiết bị với tính năng “chẳng kém nước ngoài”, nhưng chỉ là đơn chiếc mang trưng bày ở triển lãm, hội chợ, sau vài năm mất hút. Số trẻ đẻ non, chết yểu này nhiều lắm, cứ chọn ra một số đề tài, dự án lớn được Bộ KHCN nghiệm thu từ 5 đến 10 năm trước đây sẽ thấy ngay.

Tư duy ăn xổi không thể tạo ra những đỉnh cao khoa học, những hướng nghiên cứu mũi nhọn có thể sớm bứt phá lên mặt tiền khoa học thế giới. Các quan chức muốn thấy thành tích ngay trong nhiệm kỳ của mình, lại phải ban phát, rải đều quả thực cho mọi người, năm nay anh có đề tài, sang năm đến lượt anh khác, người làm khoa học giống như dân du canh, không chuyên sâu vào một hướng nhất định. Trong khi đó, khoa học phát triển được nhờ tích lũy và kế thừa, công trình đẻ ra công trình, thành công lẫn thất bại trong công trình trước đều để lại dấu ấn trong các công trình sau. Biết tích lũy và kế thừa, tri thức sẽ tăng tốc theo cấp số nhân, được lưu lại trong đầu con người qua các thế hệ, trở thành một dạng chứng khoán (stock) của các doanh nghiệp, thành truyền thống của phòng thí nghiệm và hình hài của nền khoa học.

Qua cơ chế tích lũy và kế thừa, người tài mới xuất hiện, người khác đứng trên vai họ (stand on the shoulder of giants) để nhìn rõ chân trời phía trước. Nhờ đó các nhóm nghiên cứu mạnh được hình thành và phát triển, các thế hệ khoa học sinh ra và trưởng thành nối tiếp nhau. Theo “Chiến lược”, năm 2020 nước ta sẽ có 60 nhóm nghiên cứu mạnh. Hy vọng họ, và những người lãnh đạo của họ, sẽ làm nên hình hài nền khoa học nước nhà. Thế giới sẽ biết khoa học Việt Nam qua họ. Các thế hệ tương lai sẽ nhớ đến thế hệ hiện nay qua các công trình khoa học của họ.

Mấy bước đột phá thay lời kết

Chỉ cần cố gắng làm giống như các nước khác, KH-CN Việt Nam sẽ thoát ra khỏi tình trạng hiện nay. Nghiên cứu khoa học chỉ được xem là đích thực khi tìm ra tri thức mới. Những người cầm quân, như giáo sư, chỉ được bổ nhiệm khi có chỗ đứng nhất định trên mặt tiền khoa học. Công bố quốc tế phải được dùng làm thước đo thay cho các chuẩn mực hành chính. Làm được những việc này sẽ tạo ra bước đột phá lớn đẩy lùi tệ nạn xin cho, ban phát và những tiêu cực trong môi trường học thuật hiện nay.

Sản phẩm nghiên cứu khoa học là đỉnh cao văn hóa, làm tăng vốn tri thức của đất nước, tác động đến chính sách và nâng cao mặt bằng dân trí, từ đó tạo nên sức mạnh tác động đến phát triển kinh tế xã hội. Trường đại học là nơi gánh vác tốt nhất sứ mạng này. Từ trường đại học tri thức khoa học lan tỏa ra cộng đồng, do đó phải tạo điều kiện tốt nhất để sinh viên – những người lan tỏa tri thức – được tiếp thu tri thức mới trực tiếp từ những nhà khoa học có chỗ đứng trên mặt tiền khoa học. Nghĩa là phải ưu tiên tập trung nghiên cứu khoa học về các trường đại học và xây dựng lên tại đây những nhóm nghiên cứu mạnh. Chúng ta đã bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội rồi, giờ đây không được chậm trễ nữa.

Nghiên cứu công nghệ khác với nghiên cứu khoa học và cần có chỗ đứng trong phát triển kinh tế. Nên cho qua đi niềm tự hào Việt Nam là nơi thu hút vốn FDI, ODA nhiều nhất, thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất…. Không thể mãi mãi làm người tiêu thụ mà phải bước lên bục cao hơn của những người tạo ra tiện ích cho xã hội. Con đường duy nhất là nội địa hóa công nghệ, sau đó tiến lên đổi mới để cạnh tranh. Cho nên rất cần một quyết sách từ phía nhà nước, đừng để doanh nghiệp mãi chạy theo lợi nhuận trước mắt mà quên lợi ích lâu dài của dân tộc. Và sau quyết sách là tầm nhìn và trách nhiệm của những nhà lãnh đạo KH-CN. Bởi tìm ra cách đi hợp lý trước trăm bề ngổn ngang hiện nay, thật không dễ chút nào.

P.D.H.

___________________

[*] Mời đọc thêm: – 1023. Quốc Hội phải làm gì khi ra nghị quyết dựa trên những bằng chứng không đúng; – Năm 2020 Việt Nam chỉ cần 100 tỉ kWh điện! (TC Thời đại/TBKTSG, 8/7/2004). - GS Phạm Duy Hiển nói về điện hạt nhân (Bee, 5/11/2009). - GS Phạm Duy Hiển: Nên lùi thời điểm làm ĐHN 10 năm (Bee, 6/6/2011). – Thư ngỏ của GS Phạm Duy Hiển gửi Thủ tướng Naoto Kan (Bee, 23/6/2011). – GS Phạm Duy Hiển “Tôi chờ họ bắt tôi “ (Mr.LeCongNhan/YouTube, 19/7/2011). - GS PHẠM DUY HIỂN: TA CHỈ YÊU NƯỚC KHI CHỊU HY SINH CHO ĐẤT NƯỚC (Nguyễn Xuân Diện, 25/7/2011).

Theo blog Anh Ba Sàm
Read more…

Tân Lê và phát minh EPOC Headset

11:54 |
Tân Lê và phát minh EPOC Headset
(Wireless Mind Reader Control)


Cô Tân Lê, sinh năm 1977 tại Việt Nam là một nhân tài xuất chúng trong cộng đồng Việt Nam tại Úc. Cô và người em gái nhỏ cùng mẹ là thuyền nhân đã đến Malaysia sau 5 ngày 5 đêm lênh đênh trên biển. Cô lớn lên, tốt nghiệp Luật khoa và Thương Mại tại Úc. Với kỹ thuật điện toán sử dụng tư tưởng điều khiển máy rô-bô, Tân Lê đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lãnh vực này. Cô Tân Lê cũng là một luật sư, một doanh nhân nổi tiếng tại Úc và trên thế giới.
Cô Tân Lê
Cô Tân Lê là đồng sáng lập viên và Chủ Tịch của Emotiv Systems, một công ty khai triển năm 2003 tại Úc Châu sử dụng Não Quản Điện Tử để thay đổi hệ thống phát minh trên Thế Giới.

Trước đó, cô đứng đầu một công ty làm việc trên một hình thức mới của điều khiển từ xa sử dụng sóng não để điều khiển các thiết bị kỹ thuật số và các phương tiện truyền thông kỹ thuật số. Nó là một giấc mơ để bỏ qua cơ (chuột, bàn phím, clicker) và có các thiết bị kỹ thuật số của chúng tôi trả lời trực tiếp những gì chúng ta nghĩ. Tai nghe sản phẩm EPOC của Emotiv sử dụng 16 bộ cảm biến để lắng nghe hoạt động trên toàn bộ não. Phần mềm "học hỏi" hoạt động não của mỗi người sử dụng trông giống như khi một người, ví dụ, tưởng tượng ra một rẽ trái hoặc nhảy.

Cô Tân Lê là một người tị nạn từ Việt Nam năm 4 tuổi, cô vào đại học ở tuổi 16 và đã trở thành một nhà lãnh đạo quan trọng trẻ trong nước của Úc.

Mời bạn lắng nghe Tân Lê ra mắt Phát minh máy đọc não người (Tan Le: A headset that reads your brainwaves)


Tân Lê kể chuyện gia đình, cuộc đời Tỵ nạn phấn đấu để thành công nơi quê hương mới của Cô (Tan Le: My immigration story)

Read more…

CẢNH BÁO từ Google: Đề phòng các vụ tấn công tình nghi là của tin tặc nhà nước

06:20 |
Chúng tôi thường xuyên theo dõi những hoạt động có ý đồ xấu trong hệ thống chúng tôi, đặc biệt là những nỗ lực của kẻ gian tìm cách xâm nhập trái phép vào tài khoản của người dùng. Khi chúng tôi có dữ kiện đích xác - hoặc do người dùng báo cáo hoặc do nỗ lực theo dõi của chúng tôi - thì chúng tôi cảnh báo rõ ràng và tìm cách ngăn chận những kẻ gian này.

Hôm nay, chúng tôi có thêm biện pháp đặc biệt cho một nhóm người dùng mà chúng tôi nghĩ họ. đang là nạn nhân của những vụ tấn công bởi tin tặc có nhà nước bảo trợ. Bạn sẽ thấy cảnh báo như sau đây:

Lời cảnh báo (màu tím nhạt) khi quý vị vào tài khoản của Google.

Nếu bạn thấy lời cảnh báo này, đó không nhất thiết là tài khoản của bạn đã bị xâm nhập và bị chiếm lấy. Nó chỉ có nghĩa rằng chúng tôi tin là bạn đang là nạn nhân của một trò lừa lọc (phishing) hoặc của mã độc chẳng hạn. Và bạn nên có những biện pháp cấp thời để làm tài khoản an toàn hơn. Sau đây là một số việc mà bạn nên làm liền:

- Làm một mật khẩu đặc biệt có chữ thường, chữ HOA, số và các ký tự đặc biệt

- Mở chức năng login 2-bước (hay khóa 2-chìa) để an toàn hơn nữa

- và cập nhật trình duyệt, hệ điều hành, plugins, phần mềm xử lý văn bản (Word, Office)

Kẻ gian thường gửi những đường dẫn vào những trang login để tìm cách đánh cắp mật khẩu, do đó bạn cần cẩn thận khi login vào Google và phải nhìn thấy hàng https://accounts.google.com/ trong thanh địa chỉ của trình duyệt.

Những lời cảnh báo này không phải vì hệ thống của Google bị xâm nhập hay bị tấn công mà chỉ muốn cảnh báo bạn có thể đang là nạn nhân của một vụ tấn công.

Bạn có thể thắc mắc là tại sao chúng tôi biết đây là những vụ tấn công của tin tặc có nhà nước bảo trợ. Rất tiếc chúng tôi không thể đi sâu vào chi tiết vì e rằng sẽ giúp cho kẻ gian biết thêm dữ kiện. Việc phân tích sự kiện cùng với báo cáo của các nạn nhân khác cho thấy rõ có bàn tay của nhà nước hoặc những nhóm được nhà nước bảo trợ.

Chúng tôi cho rằng chúng tôi phải có bổn phận thông báo ngay cho nguời dùng về những vụ tấn công hay có thể bị tấn công để người dùng có biện pháp thông tin của họ. Và chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật những thông báo này dựa vào thông tin mới nhất.

Nguồn: NoFireWall
Read more…

Nguy cơ về một cuộc chiến tranh không gian ảo

06:21 |
Những hoạt động của con người, nhất là kỹ thuật quân sự và vũ khí chiến tranh ngày càng lệ thuộc vào hệ thống vi tính mạng, dễ đưa tới xung đột bắt đầu bằng cuộc chiến tranh trên không gian ảo. Khi hệ thống máy tính mạng bị trục trặc hay ngừng hoạt động, thì sức mạnh hủy diệt của vũ khí sẽ bị “bốc hơi”. Do đó, ai làm chủ được hệ thống thông tin mạng là người chiến thắng, và cuối cùng, kẻ chiến bại bị hủy diệt bằng vũ khí quy ước là bom đạn.

1* Viễn ảnh một cuộc chiến tranh mạng

Đột nhiên, các sàn chứng khoán, ngân hàng, hệ thống giao thông công cộng đều bị tê liệt. Điện nước, điện thoại bị cắt. Dân chúng hỗn loạn. Tất cả đều kinh hoàng, không biết tai họa nào sẽ giáng xuống cuộc đời của mình.

Đó không phải là chuyện phim Hollywood, mà là một viễn cảnh chiến tranh mạng (Cyberwar) khó có thể tránh được, nếu các cường quốc không ngừng chạy đua vũ trang không gian ảo (Cyber space) như hiện nay.

Một viễn ảnh chiến tranh mạng khi mà tất cả những hoạt động trên thế giới ngày càng lệ thuộc vào Internet và các hệ thống máy vi tính.

Những việc gần đây nhất, có liên quan đến tin tặc (Hacker) đã đánh sập các trang mạng như Sony, Google, Lockheed Martin, và ngay cả Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, CIA, NASA, FBI…khiến cho những người lạc quan nhất cũng phải lo ngại.

2* Hoa Kỳ kêu gọi thành lập một bộ quy tắc ứng xử mạng

Ngày 4-6-2011, tại hội nghị Đối Thọai Shangri-La, bộ trưởng QP/HK, Robert Gates đề cập đến những đe dọa trên không gian ảo, là một vấn đề rất quan trọng và kêu gọi các đồng minh châu Á-Thái Bình Dương hãy xem những đe dọa đó có thể xảy ra cho bất cứ quốc gia nào, nên cần thiết phải có sự hợp tác quốc tế, mục đích thiết lập một bộ quy tắc ứng xử không gian mạng, để chỉ rõ, những hành vi nào trên không gian ảo có thể chấp nhận được, những hành vi nào không, và vi phạm sẽ bị xem như một hành động chiến tranh.

3* Hoa Kỳ và Trung Cộng muốn tránh chiến tranh mạng

Ngày thứ hai, 7-5-2012, bộ trưởng QP/HK, Leon Panetta đã gặp người đồng nhiệm là bộ trưởng Quốc Phòng Trung Cộng, Lương Quang Liệt ở Washington, D.C., hai bên cho biết, họ sẽ làm việc với nhau để tránh một cuộc chiến tranh mạng giữa hai nước.

Ông Lương Quang Liệt phủ nhận rằng nguồn gốc của những cuộc tấn công vào hệ thống máy tính của HK, phát xuất từ Trung Cộng. Ông nói: “Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng các cuộc tấn công mạng trực tiếp nhắm vào Hoa Kỳ đều bắt nguồn từ Bắc Kinh”.

Ông Panetta cũng thừa nhận rằng “các nước khác” cũng tham gia vào những cuộc tấn công HK, ông nói: “Vì Hoa Kỳ và Trung Cộng đã phát triển công nghệ trong lãnh vực nầy, cho nên, chúng tôi cho rằng hai bên cùng làm việc với nhau là cực kỳ quan trọng, để tránh bất cứ sai lầm nào, như ngộ nhận, có thể đưa tới khủng hoảng trong lãnh vực nầy”.

Năm 2011, một báo cáo của tình báo Mỹ cáo buộc đích danh các tin tặc Trung Cộng đã đánh cắp thông tin công nghệ bí mật của Hoa Kỳ, mục đích phục vụ nền kinh tế của nước nầy. Các viên chức Trung Cộng luôn luôn bác bỏ những cáo buộc của Hoa Kỳ, vì trên thực tế, rất khó và không có thể tìm ra bằng chứng cụ thể, cho nên Trung Cộng vẫn mạnh miệng từ chối dài dài.

4* Hoa Kỳ cảnh báo năng lực chiến tranh mạng của Trung Cộng

Ngày 8-3-2012, hảng AFP đưa tin, nhà thầu quốc phòng Hoa Kỳ Northrop Grumman, đã đệ trình một báo cáo 135 trang lên Ủy ban Duyệt xét An ninh Kinh tế, Hoa Kỳ-Trung Cộng, của Quốc hội Mỹ.

Nội dung báo cáo nhấn mạnh, Trung Cộng (TC) ngày càng tập trung cho “một cuộc đối đầu thông tin. Năng lực máy tính của TC đã tiến bộ, là mối đe dọa cho quân đội HK”.

Các lãnh đạo quân đội TC quan niệm rằng, sự thành công trong chiến tranh, sẽ tùy thuộc vào khả năng kiểm soát thông tin và kiểm soát các hệ thống thông tin của địch.

Bản báo cáo nêu một trường hợp cụ thể về cuộc tấn công HK, trong việc HK bảo vệ Đài Loan, như sau:

“Một vài tuần lễ trước khi tấn công Đài Loan, thì TC sẽ xử dụng các vũ khí trả đủa điện tử để tấn công mạng và các công cụ khai thác mạng của HK, cụ thể là tấn công vào mạng vi tính của Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command=USPACOM), kế đó tấn công Bộ Tư Lệnh Giao Thông, nhằm làm xáo trộn khả năng kiểm soát và chỉ huy của HK.”

Mạng lưới của các nhà thầu hợp tác với hai bộ tư lệnh nầy cũng bị tấn công luôn, mục đích ngăn chặn đường tiếp tế và các dịch vụ hỗ trợ cho Đài Loan.

Báo cáo cho biết, vì sự khó khăn trong việc xác nhận thủ phạm thật sự là ai, sẽ làm chậm trễ phản ứng của HK. Trong khi đó, quân đội TC chớp nhoáng đổ bộ chiếm Đài Loan.

Theo báo cáo thì các hoạt động máy tính của TC, bao gồm tấn công, phòng thủ, và khai thác, đã trở thành nền tảng chiến lược quân sự của nước nầy.

Hồi tháng 11 năm 2011, một cơ quan tình báo Mỹ đã thẳng thừng cáo buộc đích danh “Trung Cộng là một thủ phạm dai dẳng và tích cực nhất thế giới, về gián điệp kinh tế trên không gian ảo”.

5* Hoa Kỳ cân nhắc chiến lược chiến tranh mạng

Ngày 19-10-2011, đại tướng không quân Mỹ, C. Robert Kehler, chỉ huy Bộ Tư Lệnh Chiến Lược về không gian ảo, thuộc Bộ Quốc Phòng HK, thừa nhận: “Bộ QP còn rất nhiều việc phải làm để xây dựng một học thuyết quân sự cho việc phát động một cuộc chiến tranh máy tính. Lợi ích của HK đang bị thách thức bởi “những diễn viên rất tinh vi, đang hoạt động trong không gian ảo”.

Tuy nhiên, tướng Kehler cũng lưu ý: “Tôi tin rằng Hoa Kỳ vẫn còn lợi thế trong không gian ảo”.

Hoa Kỳ cần một học thuyết về chiến tranh mạng

Theo tờ New York Times, thì HK chưa có môt học thuyết chi tiết cho cuộc chiến trong không gian ảo, như đã có các học thuyết hoạt động trên bộ, trên không và trên biển. Chưa có những quy định, những hướng dẫn cụ thể để tiến hành một chiến dịch tấn công trên mạng. Đại tướng Kehler cho biết: “Tôi tin tưởng, không một chút nghi ngờ nào, là cần phải có một cuộc bàn luận toàn diện để thành lập học thuyết hướng dẫn giao chiến trên mạng”.

6* Hoa Kỳ thành lập Bộ Tư Lệnh Không Gian Ảo

(United States Cyber Command-USCYBERCOM)

Các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ muốn nâng cấp đơn vị Chiến Tranh Mạng lên thành Bộ Tư Lệnh Không Gian Ảo, để cho các đối thủ biết rằng HK rất coi trọng việc bảo vệ khả năng hoạt động trong lãnh vực nầy.

Ngày 2-5-2012, tờ Washington Post, dẫn lời một quan chức giấu tên, cho biết, Chủ Tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Chairman of the Joint Chiefs of Staff) là đại tướng Martin Dempsey sẽ đưa ra một khuyến cáo với Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta, để trình lên Tổng Thống Barack Obama, thành lập Bộ Tư Lệnh Không Gian Ảo. Việc thành lập Bộ Tư Lệnh (BTL) nầy lên ngang hàng với 6 Bộ Tư Lệnh khác, để người đứng đầu BTL làm việc, báo cáo và nhận lệnh trực tiếp với tướng Martin Dempsey và Bộ trưởng Panetta, giảm bớt hệ thống hàng dọc như trước kia. Một vị tướng 4 sao sẽ đứng đầu BTL mới.

Một số nước chỉ trích việc nầy, cho rằng HK là quốc gia gây hấn quân sự trên không gian ảo. Nhưng các quan chức Mỹ cho biết, chủ yếu là tập trung vào phòng thủ hơn là tấn công.

Hiện tại HK đã có 6 Bộ Tư Lệnh vùng (Geographic Command):

1. U.S. Central Command (USCENTCOM) phụ trách quân sự Vùng Vịnh, Trung Đông

2. European Command (EUCOM) Bộ Tư Lệnh châu Âu

3. Africa Command (AFRICOM) BTL Phi châu

4. Northern Command (USNORTHCOM), phụ trách Alaska, Canada và Mexico

5. U.S. Southern Command (USSOUTHCOM), phụ trách quân sự Trung Mỹ, Nam Mỹ và vùng biển Caribbean.

6. U.S. Pacific Command (USPACOM), BTL Thái Bình Dương.

7* Tình báo Mỹ tu chỉnh lớn về hệ thống thông tin

Ngày 3-2-2012, Giám đốc Tình Báo Quốc Gia, James Clapper xác nhận, HK đang triển khai những biện pháp quan trọng và có hiệu quả để tránh một vụ Wikileaks thứ hai. Wikileaks đã công bố hàng trăm ngàn email mật của Mỹ, buộc Washington phải có những biện pháp thay đổi cần thiết. Các biện pháp mới sẽ loại bỏ nội gián như trường hợp binh sĩ Bradley Manning đã cung cấp tin tức cho Wikileaks, đưa đến tổn thất chưa từng có đối với ngoại giao và tình báo Mỹ. Dù chỉ là một binh nhì, đóng quân ở Iraq chưa đầy một năm, mà Manning có thể truy cập hầu như toàn bộ email mật của bộ Ngoại Giao HK, có tổng cộng 260,000 điện thư mật đã bị công bố trên mạng toàn cầu. Hậu quả không những thiệt hại khó bù đấp nổi về ngoại giao , chiến lược chính trị, mà còn làm mất niềm tin trên toàn thế giới.

7.1. Tình báo “lên mây” (CloudMe)

Tờ Bloomberg dẫn lời Giám Đốc James Clapper, đưa tin, công nghệ điện toán “đám mây” sẽ đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống tình báo HK. Đó là tập trung tất cả lại, thành một hệ thống hợp nhất, bao gồm thông tin của 16 cơ quan tình báo HK, xem như một thư viện chung, giống như một đám mây trên trời, để cung cấp và chia xẻ thông tin một cách an toàn, tránh trường hợp các cơ quan tình báo nầy gởi thông tin cho các cơ quan khác, dễ bị đánh cắp trên đường đi.

Biện pháp nầy cũng chưa chắc bảo đảm an toàn 100%. Trước kia, một người lạ xâm nhập một mạng lưới của Bộ Ngoại Giao, nhưng sau nầy, có biết bao nhiêu người quen thuộc 16 tổ chức tình báo được quyền vào thư viện thông tin chung, thì tỷ lệ an toàn sẽ thấp xuống. Cái gì có liên quan đến nhiều con người, thì khó giữ bí mật, một trong nhiều người đó tiết lộ, bán tin tức, thì làm sao biết được ai là thủ phạm. Làm sao biết được mức độ trung thành của con người?

7.2. 16 cơ quan tình báo Hoa Kỳ

Cộng đồng tình báo HK là một tổ chức tình báo của chính phủ, có khoản 100,000 nhân viên với chi phí hàng năm khoảng 40 tỷ đô la.

Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia phụ trách việc kiểm soát, điều phối hoạt động của 16 tổ chức tình báo trực thuộc.

Các thành viên:

CIA (Central Intelligence Agency), Cục Trung Ương Tình Báo.

Trụ sở ở Langley, Virginia.Thành lập 1947, có tiền thân là OSS. Sau chiến tranh lạnh, CIA hoạt động tình báo kinh tế hải ngoại. Ngân sách 3.1 tỷ USD.

I. Bộ Quốc Phòng HK:

NSA (National Security Agency) Cơ quan An Ninh Quốc Gia.

Thành lập 1952. 21,000 nhân viên. Trụ sở tại Fort George G. Meade, Maryland. Nhiệm vụ chính là phát hiện những nguy cơ phá hại lợi ích HK. Ngân sách 3.6 tỷ USD. NSA có biệt danh là “kẻ thần bí”. (No such agency= cơ quan không tồn tại). Xử dụng và giải mã các tín hiệu điện tử về thư tín và điện thoại, chứa vào một số vệ tinh quan sát quân sự cao, có thể đọc được bảng số của một chiếc xe đang chạy dưới đất.

NRO (National Reconnaissance Office). Cơ quan Trinh Sát Quốc Gia.

Thành lập 1960. Trụ sở Chantilly, Virginia. Nhiệm vụ chính là cung cấp hình ảnh do vệ tinh chụp được cho các cơ quan tình báo khác, khi có yêu cầu.

DIA (Defense Intelligence Agency). Cục tình báo quốc phòng.

Thành lập 1961. Trụ sở tại Ngũ Giác Đài. Nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo quân sự nước ngoài.

Những cơ quan tình báo trực thuộc DIA:

1. Tình báo Không Quân

2. Tình báo Hải Quân

3. Tình báo Lục Quân

4. Tình báo Thủy Quân Lục Chiến

5. Cơ quan tình báo Địa Không Quốc Gia

II . Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ

FBI (Federal Bureau of Investigation). Cục Điều Tra Liên Bang

Thành lập 1908. Trụ sở tại tòa nhà Hoover Building, WA, D.C. Nhiệm vụ chính là điều tra các vụ án hình sự trên nước Mỹ.

DEA (Drug Enforcement Administration). Lực lượng chống ma túy. Thành lập 1973. Trụ sở Arlington, Virginia. Nhiệm vụ chống lại mạng lưới mua bán, vận chuyển và tiêu thụ ma túy. Ngân sách 2 tỷ USD/năm.

III. Bộ An Ninh Nội Địa

DHS (Department of Homeland Security)

Thành lập 2003. Mục đích thành lập là khắc phục khuyết điểm về sự không thống nhất giữa các cơ quan tình báo. Cụ thể là tổng hợp và phân tích nguồn tin của 22 cơ quan tình báo khác nhau, chủ yếu là CIA và FBI. Có 17,000 nhân viên. Bộ An Ninh Nội Địa liên lạc trực tiếp với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Toà Bạch Ốc. Bộ trưởng là bà Janet Napolitano.

Bộ An Ninh Nội Địa có 2 cơ quan:

- Phòng tình báo và phân tích

- Cơ quan tình báo tuần duyên.

IV. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

INR (Bureau of Intelligence and Research). Văn Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu.

Thành lập năm 1946. Nhiệm vụ chính là phân tích các báo cáo từ các tòa đại sứ gởi về.

V. Bộ Ngân Khố.

Phòng hỗ trợ công tác tình báo.

VI. Bô Năng Lượng.

Phòng thông tin tình báo bảo mật về an ninh thế giới.

8* Hoa Kỳ cáo buộc Trung Cộng tăng cường do thám

8.1. Trung Cộng tăng cường do thám

Theo AFP, một báo cáo trình lên Quốc Hội HK, đã cảnh báo là Trung Cộng đã tăng cường hoạt động gián điệp chống lại HK. TC đã có khả năng tinh vi hơn trong vấn đề chiến tranh mạng máy tính, cũng như tuyển mộ gián điệp. Chủ Tịch Ủy Ban Nghiên Cứu An Ninh và Kinh Tế về Trung Cộng, là Carolyn Bartholomev cho biết “Trung Cộng đang thay đổi cách thức hoạt động do thám HK”.

Đại tá Gary McAlum, thuộc Bộ Chỉ Huy Chiến Lược Mỹ, trình bày với Quốc Hội rằng Bộ Quốc Phòng đã phát hiện 54,640 vụ tấn công trên mạng rất nguy hiểm trong năm 2009. Các cuộc tấn công từ khắp nơi, nhưng phần lớn là từ Trung Cộng.

8.2. Hạ viện Hoa Kỳ báo động về gián điệp kinh tế của Trung Cộng

Ngày 4-10-2011, theo AFP, thì Chủ Tịch Ủy Ban Tình Báo Hạ Viện, Mike Rogers phát biểu như sau: “Bắc Kinh đang tiến hành một cuộc chiến tranh ồ ạt về thương mại trên mạng, nhằm vào tất cả chúng ta, và chúng ta phải gây áp lực buộc họ phải ngừng lại ngay. Trong lịch sử chưa bao giờ có một chính phủ đứng ra tổ chức các hoạt động đánh cắp thông tin thương mại và sở hữu trí tuệ như thế cả”. Ông Rogers cho rằng, các hoạt động gián điệp kinh tế đã lên tới mức quá quắt như thế, nên HK và các đồng minh châu Âu và châu Á phải có biện pháp ngoại giao và kinh tế, để buộc Bắc Kinh phải chấm dứt những vụ ăn cắp đó lại”.

Trường hợp Google được đưa ra làm thí dụ cụ thể. Công ty dịch vụ tìm kiếm trên Internet nầy đã bị gián điệp tin học Trung Cộng xâm nhập và đánh cắp những thông tin quý giá. Đó chỉ là “phần nổi của một tảng băng”, còn phần chìm là nhiều công ty khác cũng bị gián điệp mạng Trung Công xâm nhập, nhưng họ không công bố với báo chí vì e ngại bị thiệt hại và gây thêm những vụ tấn công mới của TC.

Không dễ gì quy trách nhiệm cho Trung Cộng, nhưng bất cứ cơ sở phân tích mạng tư nhân cũng đều cho rằng chính phủ của nước Cộng Sản nầy đã chỉ đạo thực hiện những vụ ăn cắp thông tin nói trên.

8.3. Trung Cộng bị cáo buộc tội gián điệp kinh tế có quy mô

8.3.1. Đột nhập iBahn

iBahn là nhà cung cấp dịch vụ Internet cho các khách sạn, như dịch vụ cung cấp băng thông rộng (Broadband) về giải trí cho khách sạn Marriott International Inc. và các chuỗi khách sạn khác, bao gồm các công ty đa quốc gia trong việc tổ chức các cuộc họp tại chỗ.

Khi đã đột nhập vào mạng iBahn, tin tặc (Hacker) có thể nhìn thấy hàng triệu email bí mật, thậm chí kể cả những email được mã hoá, mà các giám đốc điều hành từ Dubai (Các Tiểu Vương Quốc Á Rập Thống Nhất-The United Arab Emirates, UAE), đến New York, gởi báo cáo về mọi thứ, từ việc phát triển sản phẩm, đến chuẩn bị nội dung cho các cuộc đàm phán thương mại. Người đứng đầu cơ quan bảo mật SpiderLabs của Trustware Corp., mang cái Nick Percoco bày tỏ: “Điều đáng lo ngại nhất, là tin tặc có thể xử dụng hệ thống iBahn như một bệ phóng, từ đó xâm nhập vào các trang mạng của những doanh nghiệp nối kết với iBahn mục đích chiếm đoạt bí mật của các công ty.

Có ít nhất 760 mạng lưới máy tính của các công ty, trường đại học, viện nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ Internet, các cơ quan chính phủ đã bị ảnh hưởng và phá hoại trong suốt một thập kỷ qua, do một nhóm gián điệp ưu tú (elite) của Trung Cộng.

8.3.2. Trung Cộng trộm cắp tất cả mọi thứ

“Họ ăn cắp tất cả mọi thứ mà chúng ta lơ là, không khoá cẩn thận, và càng ngày càng tồi tệ hơn gấp vạn lần”, dân biểu Rogers, Chủ Tịch Ủy Ban Tình Báo Hạ Viện HK cho biết như thế. Hoạt động ăn cắp là một phần nằm trong chính sách kinh tế quốc gia của họ. Họ dùng chiến thuật “máy hút bụi”, hút tất cả những gì họ bắt gặp, thu thập hàng tỷ dữ liệu của HK.

Đánh cắp bí mật công nghiệp là một cách để họ vượt qua mặt HK, trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới.

8.3.3. Chính quyền Obama nêu đích danh Trung Cộng đánh cắp tài liệu

Trước đây, gián điệp mạng của HK chú tâm nhiều đến việc chống khủng bố quốc tế, đến những quốc gia và những tổ chức quân sự khủng bố ở nước ngoài, hơn là gián điệp kinh tế Trung Cộng.

Ngày 3-11-2011, bản báo cáo của 14 cơ quan tình báo HK chỉ đích danh gián điệp Trung Cộng đã gia tăng cường độ xâm nhập và là mối đe dọa số một của các công ty Mỹ.

Chính quyền của tổng thống Obama có một hành động chưa từng thấy từ trước đến nay, là đã nêu đích danh Trung Cộng là kẻ chủ mưu.

Ông Rogers cho biết, một dự luật đang chờ Quốc Hội biểu quyết cho phép chính phủ được chia xẻ thông tin bí mật với các công ty, để giúp chống lại tin tặc Trung Cộng.

Năm 2010, khi công ty Google bị tin tặc TC đột kích màng lưới của mình, thì Google cho biết, vào thời điểm đó, cũng đã có 34 công ty lớn khác là nạn nhân, nhưng chỉ có 2 công ty lên tiếng và cung cấp chi tiết cụ thể là Intel và Adobe System Inc.

8.3.4. Quân đội Trung Cộng làm gián điệp mạng

Một quan chức tình báo giấu tên cho biết, việc truy tầm thủ phạm đôi khi cũng thành công do tác nghiệp vụng về và sai lầm của những điệp viên mạng. Ví dụ, một sĩ quan trong quân đội TC đã dùng một máy tính chủ (Server) trong việc đánh cắp tài liệu các nơi khác, đồng thời, cũng dùng máy chủ đó liên lạc với người tình của ông ta.

Công ty McAfee Inc. cho biết, trong thời gian 5 năm, từ 2006, gián điệp TC đã lục soát ít nhất 71 công ty, cơ quan chính phủ, các nhóm cố vấn (Thinktank) và các tổ chức phi lợi nhuận.

9* Tin tặc tấn công Hoa Kỳ

9.1. Tin tặc kiểm soát hoàn toàn hệ thống máy tính của NASA

(NASA=National Aeronautics and Space Administration)

Ngày 5-3-2012, Paul K. Martin, Tổng thanh tra NASA cho biết, tin tặc đã vào nắm quyền điều khiển hệ thống máy tính Jet Propulsion Laboratory (JPL) và xâm nhập tài khoản của hầu hết những người có đặc quyền xử dụng JPL. Vụ tấn công có liên quan đến địa chỉ IP của Trung Cộng.

Những hackers có khả năng, truy cập cả hệ thống, sửa đổi, sao chép, xoá bỏ các tệp tin nhạy cảm, đánh cắp thông tin những người dùng, để xâm nhập các hệ thống khác của NASA.

Theo ông Martin, trong năm 2010 và 2011, NASA đã hứng chịu 5,408 “sự cố” an ninh máy tính. Từ giữa tháng 4 năm 2009 đến giữa tháng 4 năm 2011, NASA đã báo cáo 48 thiết bị điện toán di động đã bị đánh cắp. “NASA là mục tiêu màu mỡ cho các cuộc tấn công mạng

Các mối đe dọa sẽ không suy giảm, nếu cơ quan nầy không có những biện pháp bảo vệ hữu hiệu ”.

9.2. 24 ngàn tài liệu Bộ Quốc Phòng Mỹ bị tin tặc đánh cắp

Ngày 18-7-2011, Bộ QP/HK thông báo một tin động trời, là 24,000 tài liệu của bộ nầy đã bị tin tặc đánh cắp, phụ tá Bộ Trưởng William J. Lynn III xác nhận như thế.

Rất khó và không thể xác định được danh tánh của tin tặc.

Hiện tại, Lầu Năm Góc đang sở hữu 15,000 hệ thống mạng máy tính khác nhau, với 7 triệu máy computer trên khắp thế giới.

Trong tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng Leon Panetta tiết lộ, có hơn 60,000 phần mềm (Software) bị độc hại hoặc biến thể, được xác định mỗi ngày, đã đe dọa an ninh và kinh tế của HK. Bộ nầy đã phải xây dựng một chiến lược không gian mạng mới, phù hợp với tình thế như hiện nay.

Nền “an ninh quốc gia” đang được định nghĩa lại, trong đó có sự an toàn toàn trên không gian mạng.

9.3. Tập đoàn Lockheed Martin bị tin tặc tấn công

Lockheed Martin là công ty nhà thầu quốc phòng HK. Là nhà sản xuất phi cơ F-16, F-22,

F-35, tàu chiến và các hệ thống vũ khí trị giá hàng tỷ đô la. Sản phẩm của tập đoàn nầy được bán ra khắp nơi trên thế giới.

Ngày 28-5-2011, công ty Lockheed Martin cho biết, “vào ngày 21-5-2011, đội ngũ an ninh mạng của công ty nầy đã phát hiện một cuộc tấn công, và “gần như ngay lập tức” đã thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, nhờ đó, hệ thống mạng được an toàn. Không có chương trình hoặc dữ liệu (data) cá nhân của khách hàng (các quốc gia mua vũ khí) nào bị thiệt hại cả.”

Bộ QP cho biết, họ đang hợp tác với Lockheed Martin để đánh giá mức độ thiệt hại của vụ tấn công.

9.4. Tấn công mạng là một hành động chiến tranh

Chiến tranh mạng đến hồi gay cấn, khi HK tuyên bố sẽ dùng bom đạn để đánh trả vào các cuộc tấn công mạng. Chính phủ Mỹ đang xem xét một chiến lược quân sự, xác định các cuộc tấn công mạng máy tính là một hành động gây chiến, để từ đó, cho phép các chỉ huy quân sự có thể lựa chọn biện pháp trả đủa bằng quân sự chống lại kẻ thù, theo quan niệm, “Nếu bạn đánh sập mạng lưới máy tính của chúng tôi, thì chúng tôi sẽ bắn hỏa tiễn vào một trong các cơ sở công nghiệp của bạn”.

GS Joel Reindenberg dạy môn công nghệ thông tin tại đại học Fordham ở New York nhận xét, “chính sách trên là một thừa nhận quan trọng rằng, hình thức chiến tranh mạng gây tỗn hại cho nước Mỹ cũng giống như chiến tranh súng đạn vậy”.

Ngày 1-6-2011, theo tờ The Guardian thì, Bộ QP/HK đã kết luận rằng, luật lệ về xung đột vũ trang sẽ được nới rộng ra, bao gồm chiến tranh mạng vi tính, mục đích cho phép HK xử dụng quân đội để đáp trả.

9.5. Hoa Kỳ tuyên chiến với tin tặc: nhiệm vụ bất khả thi

Jody Westby, tác giả quyển “Tìm kiếm hòa bình mạng” do LHQ ấn hành, cho biết, “rất khó truy lùng nguồn gốc của các cuộc tấn công, cho nên gần như không thể xác định được ai đứng đàng sau các cuộc tấn công”.

Một số chuyên gia cảnh báo, điều khoản nầy rất khó thi hành, và có thể dẫn tới sự leo thang trong việc quân sự hoá thế giới mạng máy tính toàn cầu.


Lực lượng đặc nhiệm CRT

Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương, NATO, đã bị tin tặc tấn công nhiều lần. Hồi năm 2010, NATO đã ra quyết định, khi một thành viên của khối bị tin tặc tấn công, thì lập tức, một nhóm chuyên viên được triệu tập, để xem xét những biện pháp đối phó. Trên thực tế, từ đó đến nay nhóm nầy chưa họp lần nào, mặc dù nhiều cuộc tấn công đã xảy ra như cơm bữa.

Hồi tháng 6 năm 2011, chuyên gia chiến tranh mạng của NATO, ông Luc Dandurand tiết lộ, NATO đã thành lập một lực lượng đặc nhiệm Cyber Red Team (CRT) nhằm tăng cường phòng vệ hệ thống máy tính và đánh trả tin tặc, nhưng đòn phản công không thực hiện được vì không biết kẻ chủ mưu là ai.

Hồi tháng 12 năm 2010, công ty Google tuyên bố, đã phát hiện được tin tặc tấn công công ty nầy phát xuất từ Trung Cộng, tuy nhiên, không có bằng chứng là chính quyền TC có liên hệ hay không. Một quan chức bộ QP/HK tuyên bố: “Làm sao mà chúng ta biết được, đó là một tin tặc vô danh hay là một thành viên của quân đội Trung Cộng”.

10* Nguy cơ chạy đua vũ trang mạng

Hoa Kỳ đã thành lập Bộ Tư Lệnh Không Gian Ảo (USCYBERCOM), nâng cấp hệ thống thông tin, và mới đây, Washington đang triển khai một dự án 1.3 tỷ USD nhằm thử nghiệm các công nghệ bảo vệ mới và đào tạo “chiến binh mạng”.

Về phía Trung Cộng, tờ báo quân đội đăng bài xã luận cho biết, nước nầy phải tăng cường khả năng chiến tranh mạng, vì “Hoa Kỳ đang ráo riết giành quyền chủ động quân sự trong thế giới ảo.” Tờ báo cho biết: “Trung Cộng cần phải cải thiện toàn diện để bảo vệ mặt trận Internet”. Tuy nhiên, phương Tây cho rằng, TC đã có một đạo quân đông đảo từ 2 năm nay, chưa kể hàng triệu tin tặc trong đó đa số là người của nhà nước.

Rõ ràng là đang có một cuộc chạy đua vũ trang không gian ảo.

11* Nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng

Tổng thống Mỹ tuyên bố: “Quốc gia nào vi phạm không gian ảo của Mỹ, thì Mỹ sẵn sàng đánh trả bằng sức mạnh quân sự thật, trong không gian thật”. Điều nầy cho thấy chiến tranh đã hé dạng. Chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi thế lực quân sự dường như đã vượt qua ngoài tầm kiểm soát. Chiến tranh sẽ được nâng lên một tầm cao mới, là chiến tranh trên Internet.

Theo đánh giá của các chuyên gia, thì hiện nay có khoảng 20 quốc gia có tiềm năng phát động cuộc chiến tranh mạng (Cyberwar)

11.1. Đang có chiến tranh mạng giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng hay không?

Các cuộc tấn công mới đây vào tài khoản email của Google nhắm vào những quan chức HK và Nam Hàn, cũng như những nhà hoạt động nhân quyền người Hoa, làm cho tình hình càng thêm căng thẳng giữa Mỹ và Trung Cộng. Đó là hành vi gây hấn, tuyên chiến tạo ra khủng hoảng, chiến tranh.

Đại tá Dave Lapan, phát ngôn viên BQP/HK, cho biết: “Để đáp trả lại một cuộc tấn công mạng, không nhất thiết phải dùng một cuộc chiến tranh mạng khác”, ý nói, một cuộc tấn công trả đủa bằng sức mạnh quân sự. “Nếu bạn tắt một lưới điện của chúng tôi, thì chúng tôi có thể bắn hỏa tiễn vào ống khói nhà bạn”. Lời đe dọa nầy nhắm vào Trung Cộng.

Tuy nhiên, trên thực tế, các quốc gia liên hệ đang chuẩn bị cho cuộc chiến tương lai, là những người lính với bàn phiếm trong phòng tối, thay vì cầm M-16 trên mặt trận.

GS Dan Kuehl, Đại học Washington cho biết: “Chúng tôi làm việc trên tất cả 5 khu vực, trên bộ, trên biển, trên không, ngoài không gian và cả trên không gian ảo nữa.

11.2. Vì sao chiến tranh mạng có thể xảy ra?

Không gian ảo ngày nay là chiến trường thật sự có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia.

Vì sao?

Vì toàn bộ chiến thuật của HK đều đặt trên hệ thống máy vi tính. Bom, mìn, hỏa tiễn được hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS) điều khiển và dẫn đường, mà hệ thống vệ tinh thì được vận hành bằng hệ thống máy computer và mạng Internet. Phi cơ không người lái được điều khiển từ xa bằng hệ thống mạng vi tính. Phi cơ, tàu chiến, ngoài công dụng là một thứ vũ khí lợi hại, còn là những trung tâm xử lý dữ kiện (Data-processing Center) khổng lồ như hệ thống AEGIS, là hệ thống máy tính dùng để phát hiện, đánh chặn tiêu diệt hỏa tiễn từ xa.

Ngoài ra, những binh lính máy móc, dây nhợ đầy người chẳng khác nào những hệ thống computer di động.

Vì thế, nếu mạng lưới máy tính tinh vi bị trục trặc, không hoạt động hoặc hoạt động sai, thì sức mạnh hủy diệt của tất cả các lại vũ khí nói trên xem như bị “bốc hơi”.

Vì thế, Hoa Kỳ có nhiều đầu tư về tài chánh và nhân lực, nhằm giữ thế thượng phong trên mặt trận không gian ảo nầy.

Trung Cộng là quốc gia mới phát triển sau nầy, nên chưa sánh kịp với HK trong hiện tại.

Đặc tính của cuộc chiến tranh mạng là những cuộc tấn công chỉ vài giây đồng hồ bằng vào những động tác nhấn phím, nhưng gây tác hại lan truyền khắp thế giới.

12* Kết

Trung Cộng chuyên tấn công mạng để ăn cắp bí mật quân sự, kinh tế để phát triển vũ khí của mọi lãnh vực. Vũ khí lợi hại, một khi đã lọt vào tay những “kẻ xấu”, hiếu chiến, bản chất bành trướng bá quyền là một hiểm họa cho nhân loại.

Cây muốn lặng mà gió không ngừng ăn cắp, ăn cướp rất dễ gây ra chiến tranh. Lịch sử bành trướng bá quyền của Hán Tộc từ ngàn xưa đã là mối nguy cho các quốc gia láng giềng, trong đó có Việt Nam là nạn nhân. Tuy nhiên, bạo quyền dù có mạnh đến đâu mà không có chính nghĩa thì trước sau gì cũng bị tiêu tùng, trước mắt là chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa Cộng Sản Nga đã sập tiệm.

Chính nghĩa bao giờ cũng thắng

Trúc Giang

Minnesota ngày 26-5-2012
Read more…

Con người và những quy luật tự nhiên

22:58 |
Viết tiếp bài viết: Tiểu luận về cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt 

Tư tưởng của tôi là thừa nhận tính tất yếu của con người là chủ nghĩa cá nhân: đã là con người thì phải ăn, ngủ,… và phải tham lam, ham sống, sợ chết, muốn sống sung sướng, muốn có nhiều tiền bạc, quyền lực,…. Điều quan trọng là phải đưa ra giải pháp, cơ chế để chủ nghĩa cá nhân phát huy sức mạnh, làm điều tốt đẹp, hạn chế cái tính xấu xa của nó, chứ không phải thần thánh hóa con người, triệt tiêu nó. Dao có sắt mới gọt được quả, dao sắt cũng dễ đứt tay, cốt yếu sử dụng sao không đứt tay chứ không phải đem mài cùn đi. Đã là con người thì đều bị chủ nghĩa cá nhân chi phối từ anh lao động, cu li, đến chị lao công, từ anh trí thức đến các bậc lãnh đạo cao thượng, không có chuyện làm lãnh đạo thì thành thánh, kinh doanh thì xấu xa, tham lam.

Qui luật tự nhiên

Hẳn, ai cũng biết nhà bác học vĩ đại Isaac Newton (http://vi.wikipedia.org/wiki/Isaac_Newton), từ việc nghiền ngẫm quả táo rơi, đã khám phá ra một qui luật vĩ đại của thiên nhiên, của vũ trụ: định luật vạn vật hấp dẫn. Đây là một định luật lớn của tự nhiên, nhờ có nó mà vũ trụ thực hiện được bản giao ca vĩ đại của mình:
các thiên hà, các hành tinh hút nhau, quay quanh nhau, vận động, chuyển hóa không ngừng nghỉ: các ngôi sao cháy sáng dưới sức hút của trọng lực chính mình (trọng lực đã tạo ra sức nén kích hoạt phản ứng hạt nhân), trong hệ mặt trời chúng ta, mặt trời cháy rực soi sáng thiên hà, trái đất quay quanh, các dòng sông cuộc chảy, sự sống sinh sôi, trong đó có thế giới loài người,…thật vĩ đại, thật kỳ diệu. Đó là kiến thức khoa học cơ bản, bây giờ thì ai cũng biết. Có người cho rằng Newton đã “tạo” ra lực hấp dẫn. Điều này không đúng, lực hấp dẫn là thuộc tính tự nhiên, nó mặc nhiên có, Newton vĩ đại vì là người thấy nó và tổng kết thành qui luật để con người hiểu biết và vận hành trong cuộc sống. Nhà bác học thiên tài Albert Einstein (http://vi.wikipedia.org/wiki/Albert_Einstein) từng nói “tự nhiên thì nó vẫn là nó cho dù có người quan sát hay không”. Con người chỉ phát hiện ra nó, tổng kết thành qui luật và ứng dụng trong cuộc sống. Con người khác con vật ở chỗ: “một con ruồi bò trên bề mặt quả địa cầu, nhưng nó không biết rằng nó đang bò trên đường cong. Còn con người thì biết đó là đường cong”, đã là qui luật thì còn người phải tuân theo để đạt được mục đích của mình (triết học có phạm trù: tự do và tất yếu). Từ biết định luật vạn vật hấp dẫn mà chúng ta biện giải được những hiện tượng xung quanh mình: té ngã, nhà sập, nước chảy, đá lăn,…. Tuyệt vời hơn nữa là con người biết ứng dụng, lợi dụng qui luật tự nhiên để cải biến cuộc sống của mình: không bao giờ con người bay được trong những chiếc máy bay khổng lồ, an toàn mà không thừa nhận định luật vạn vật hấp hẫn.

Tự nhiên có rất nhiều “định luật” lớn nhỏ, chi phối các thuộc tính khác nhau, tuy nhiên có những định luật lớn, tổng quát nhất chi phối bản hòa ca của tự nhiên. Định luật vạn vật hấp dẫn là một trong số đó. Một nguyên tắc đơn giản: dưới tác dụng của trọng lực, nước phải chảy chỗ trũng. Đơn giản có vậy mà bao con sông hùng vĩ tuôn trào, mang lại phù sa, nước mát làm trù phú quả địa cầu. Chúng ta không thể ngăn một dòng sông chảy, có chăng ‘uốn” dòng chảy để nó phục vụ theo ý mình, muốn thế cũng phải tuân theo qui luật tự nhiên: tạo nên chỗ trũng và hai bờ để nó chảy theo ý mà không “tức nước vỡ bờ” chảy tràn lan, không kiểm soát được, nhấn chìm làng mạc, tiêu hủy cuộc sống. Cũng có khi có những “giọt nước” được tia nắng mặt trời làm cho bốc hơi, không cần phải chảy vẫn ra được đến biển. Thấy một con đường đi quá ngắn, quá tuyệt vời để đạt được mục đích, dùng ý chí ao ước, ép buộc, dùng mọi biện pháp để cả dòng sông được thế, chỉ tốn sức, hoài công vô ích. Hiểu qui luật, hành động theo qui luật thì điều tốt đẹp tự đến, dùng ý chí không đếm xỉa qui luật, dù có “quyết tâm cao độ” cũng chỉ gây ra thảm họa! (Kinh tế tập trung, quan liêu thời bao cấp là một minh chứng hùng hồn).

Con người và những thuộc tính

Con người là một sản phẩm của tự nhiên, cũng có những thuộc tính của tự nhiên, hiển nhiên nó tồn tại, dù có những lúc như giọt nước bốc hơi kia, nhưng ta không thể lấy đó để “làm thước đo” cho cả xã hội. Thuộc tính con người chúng ta cần thừa nhận: con người có thuộc tính ích kỉ, tham lam, tư hữu, tiền của mình thì mới xót, mới lo hết mức, lo cho mình và người thân trong gia đình trước, muốn sống sung sướng, giàu sang, thỏa mãn thuộc tính cá nhân về tình dục, về cái tôi,… phản ứng tự nhiên là muốn bảo vệ quyền lợi mình đang có,…. Tất cả những thuộc tính đó được tập hợp lại trong cái gọi là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chi phối con người mạnh mẽ như trọng lực chi phối lên chiếc máy bay và vạn vật. Chúng ta không thể “thần thánh” hóa con người mà bỏ qua chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần thừa nhận, tôn trọng nó như một tất yếu để rồi ứng dụng nó trong quản lý, vận hành xã hội đến mục đích tốt đẹp như thừa nhận trọng lực tác dụng lên máy bay và vận hành đúng để nó bay. Chủ nghĩa cộng sản, giấc mơ vĩ đại của nhân loại, gây cảm hứng mạnh mẽ cho hơn một nửa nhân loại trong suốt thế kỷ 20 và được cố gắng thực hiện bỡi nhiều bộ óc được cho là thông minh tầm cỡ, được noi gương đạo đức bỡi nhiều vị “thánh tổ”… nhưng rất tiếc lại là chủ thuyết hành động trái qui luật. Tất yếu nó sụp đổ, phải rơi xuống đất tan nát như chiếc máy bay do một tên lãng mạn tạo ra.

Phát huy thuộc tính cá nhân của con người trong xã hội

Một nguyên tắc đơn giản: dưới tác dụng của trọng lực, nước phải chảy chỗ trũng. Đơn giản có vậy mà bao con sông hùng vĩ tuôn trào, mang lại phù sa, nước mát làm trù phú quả địa cầu. Cũng với chủ nghĩa cá nhân, với mong muốn được sống tốt, được có tài sản, con người đã ra sức lao động, chấp nhận rủi ro, mạo hiểm,… làm giàu cho mình, cho gia đình mình. Thấy có lợi cho mình, cho gia đình mình thì làm, thấy thiệt thì né ra, điều này nhiều khi chúng ta gọi là… tham lam, là... hèn. Vâng, nhiều khi là như vậy, nhiều khi cuộc sống cần những con người vì đại nghĩa, vì hảo hớn, nhưng chúng ta không thể lấy nó làm chuẩn để đòi hỏi cả xã hội ai ai cũng phải thế. Cứ cho rằng ông Hồ Chính Minh là người có đạo đức cách mạng sáng người, như lâu nay Đảng Cộng Sản tuyên bố và vận động toàn Đảng, toàn dân ra sức học tập, làm theo đạo đức của ông để đất nước tốt đẹp, thịnh vượng, giàu có. Đây là một hình thức làm việc trái qui luật tự nhiên, phản ảnh sự bế tắc của các giải pháp quản lý xã hội khoa học, không bao giờ có kết quả như mong muốn. Ông Hồ Chí Minh có thể là một giọt nước “bốc hơi” đẹp long lanh, nhưng không thể bắt cả dòng sông cũng “bốc hơi” như ông. Thực tế qua 6 năm làm cái việc vận động, học theo tốn không biết bao nhiêu sức lực, tiền của mồ hôi, nước mắt của dân, tham nhũng ngày càng trầm trọng, kinh tế lụn bại là một minh chứng hùng hồn, không thể chối cãi được. (Hãy xem những tên chóp bu kêu gào học tập và làm theo đã hành động như thế nào? Rất chuẩn theo qui luật tự nhiên: chủ nghĩa cá nhân: gia đình, vợ con, dòng họ sung sướng, giàu sang, đi toàn xe công sang trọng, đẳng cấp,….).

Làm sao thuộc tính chủ nghĩa cá nhân “xấu xa” lại có thể làm cho cuộc sống xanh tươi, xã hội tốt đẹp?

Dòng sông chảy về chỗ trũng, không thể chảy tràn lan dù nó có muốn thế cũng không được, vì sao? Vì có đôi bờ ngăn hai bên. Con người thấy lợi thì làm, hại cho mình thì không, luôn cân nhắc được nhiều hơn mất thì sẽ làm, dù người đó là nông dân, anh xe ôm, chị lao công, đến vị thức giả, doanh nhân, đến nhà chính trị bảnh bao, miệng lỡi hùng hồn cũng vậy. Lợi cho mình, quyền sống cho mình, cho gia đình mình luôn được cân nhắc trước, tự nhiên con người không thể lấy búa mà ghè vào chân.

Qua hàng ngàn năm tiến hóa, bao thăng trầm, bao cuộc cách mạng đẫm máu, trời long đất lở, bao chủ thuyết được nêu ra, thực hiện, thất bại cay đắng,… cho đến hôm nay con người đã tìm ra cho mình hai “bờ” hiệu quả để quản lý chủ nghĩa cá nhân, giúp nó phát huy, cuộn chảy, mang lại tốt tươi cho đời mà không tàn phá “làng mạc”. Hai bờ kỳ diệu đó là gì?

Bờ thứ nhất là kinh tế thị trường tự do: Như tôi từng nói: Xét về tự nhiên, con người thoát khỏi giới động vật là nhờ lao động, lao động làm ra tài sản, của cải, tiền bạc. Tiền chính là giá trị sức lao động (suy rộng ra là giá trị con người), có tiền (tài sản, của cải) thì sẽ được sống sung sướng, không chỉ cho mình mà cho người thân trong gia đình, không tiền, không tài sản, không của cải thì sống vô cùng khốn khổ không khác gì con thú; tiền của mình thì xót, tiêu dùng, kinh doanh có trách nhiệm, của người khác dù là của bố mẹ thì cũng không thể xót xa, trách nhiệm như của mình, huống gì tiền “chùa”, tiền của ‘nhân dân”, điều này thì rõ ràng, không cần bàn cãi. Do vậy ai cũng muốn có nhiều tiền, nhiều tài sản, nhiều của cải, vì nó là nguồn sống. Kinh tế vẫn là hoạt động chính yếu của con người. Trong xã hội hiện đại, một người, một gia đình không thể làm ra mọi thứ, để có hiệu quả, chỉ làm một thứ và trao đổi với nhau, đồng tiền có vai trò vô cùng to lớn, tiền là tài sản, là của cải, có tiền là có “đủ thứ”, hoạt động kinh tế chính là hoạt động kiếm tiền, suy rộng ra, hoạt động sống gần như là hoạt động kiếm tiền, tiêu tiền. Có người nói, từ khi con người phát minh ra tiền, con người không thể điều khiển thế giới theo ý muốn chủ quan của mình nữa quả không sai. Tất cả xã hội vận động theo qui luật vận động của tiền, hiểu qui luật “chảy” của tiền, mới điều khiển được xã hội loài người, như hiểu trọng lực mới điều khiển được dòng sông. (Cả nước Mỹ to lớn, hùng cường, nên kinh tế đa dạng, qui mô 15.000 tỷ USD, chỉ nắm mỗi một việc duy nhất: lãi suất của FED là điều khiển được (suy rộng ra, không chỉ điều khiển nước Mỹ mà còn là nền kinh tế toàn cầu, với 7 tỷ người, hàng chục ngàn tỷ USD), kỳ diệu như người phi công cầm cái cần điều khiển của chiếc siêu máy bay Air Bus A380, nặng 560 tấn, cao hai tầng, chở đến 900 người, vượt đại dương 16.000 km mới cần tiếp nhiên liệu, thật kì diệu) (http://vi.wikipedia.org/wiki/Airbus_A380).

Để hiểu được tiền được làm ra như thế nào trong nền kinh tế thị trường tự do toàn cầu hóa, ta phải nắm được cái tư tưởng chủ đạo của cha đẻ lý thuyết marketing hiện đại: Michael Porter (http://vi.wikipedia.org/wiki/Michael_Porter). Ông chỉ ra rằng, trong nền kinh tế tự do, việc gì cũng có nhiều người làm, cạnh tranh nhau rất khốc liệt, để bán được hàng, để có lợi nhuận thì phải nghiên cứu, điều tra thị trường, sản xuất ra đúng cái thị trường cần, với doanh số làm sao bán ra mình có lãi nhiều nhất. Điều này rất phù hợp với thuộc tính cơ bản của con người: làm ít nhất mà có cuộc sống sướng nhất (làm ít tốn sức nhất mà có tiền nhiều nhất), trong cuộc chơi này, nếu ai khù khờ, không hiểu biết, không chơi đúng qui luật thì lãnh phần thiệt về mình. Điều đó giải thích vì sao người nông dân lao động vất vả, đầu tắt, mặt tối mà cuộc sống vô cùng khổ sở. Có câu nói: làm việc thông minh hơn làm việc chăm chỉ, quả không sai.

Có tiền là có đủ thứ, tìm mọi cách để có tiền, không thể khác hơn được. Xã hội sẽ tốt đẹp nếu muốn có tiền, ta phải làm một điều gì đó có ích: bán sản phẩm tốt, sáng tạo ra điều kì diệu mà dân chúng phải bỏ tiền ra mua (Apple), làm một dịch vụ giúp cuộc sống tốt hơn,… Tất nhiên có rất, rất nhiều kiểu cách có tiền đơn giản hơn, không cần phải mất sức nhiều như: trộm cướp, lừa đảo, bán hàng đểu kém chất lượng, chế biến gian dối tạo ra sản phẩm độc hại để có giá thành thấp, bán hàng giá cắt cổ,… Tuy nhiên trong cơ chế kinh doanh tự do, có thương hiệu, tôn trọng bản quyền, sở hữu trí tuệ, luật pháp nghiêm minh (luật pháp nghiêm minh nhất chỉ có trong thể chế dân chủ, pháp quyền),… làm như vậy là anh tự cắt cổ mình. Hoặc bị luật pháp trừng trị, hoặc bị người tiêu dùng tẩy chay. Chỉ có một cách duy nhất là tìm hiểu nguyện vọng người tiêu dùng để thỏa mãn họ, bán được hàng, giữ được chữ tín,…. khi đó mới có lợi nhuận, có tiền.

Bờ thứ hai là nền chính trị dân chủ, nhà nước pháp quyền: Để biết chính trị có mang lại tiền của, cuộc sống sung sướng không, ta nên tìm hiểu một nhân vật trứ danh trong lịch sử Trung Hoa: Lã Bất Vi với câu nói nổi tiếng: làm ruộng lãi 1, nuôi tằm lãi 10, đi buôn lãi 100, buôn vua lãi hàng vạn, không tính được. Thế mới biết vì sao con người ham mê quyền lực đến thế, chế độ phong kiến có một điều khoản vô cùng khốc liệt: tru di tam tộc, thậm chí là cửu tộc nếu giành quyền của vua, thế mà có ngăn được con người tranh giành quyền lực được đâu.

Dưới ánh sáng của tư tưởng chính trị hiện đại: quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, lãnh đạo là nghề làm thuê (lời của tổng thống Barack Obama), làm không nên, không thỏa mãn người dân, không mang lại kinh tế thịnh vượng, cơm no áo ấm cho dân thì về vườn, cút xéo, không có chuyện thiên tử, nước của Vua, mang ơn lãnh đạo,… câu chuyện lãnh đạo tuyệt đối, duy nhất cũng như vậy. Tư tưởng là vậy, nhưng để làm được điều đó không phải muốn là được, phải tổ chức công việc khoa học, không thể ý muốn lãnh tụ, cha già dân tộc, đạo đức sáng ngời để người làm chính trị, làm lãnh đạo noi gương, làm theo là thành công, không bao giờ, mãi mãi không bao giờ!

Câu chuyện tự phê bình, nhận khuyết điểm, rửa mặt hàng ngày,… là câu chuyện hành động trái luật tự nhiên, chống lại bản ngã con người, không ai lấy búa mà ghè vào chân mình được, có chăng chỉ là chiêu mị dân, hoặc là niềm tin của kẻ lãng mạn, ngây thơ. Nếu tin theo cái ý tưởng đó không khác gì theo cái long lanh của giọt nước bay hơi, việc gì phải thế, giọt nước bay hơi thì tốt nhưng cái chính nó phải theo luật chơi của trọng lực, của dòng chảy, của bề ngăn. Quan trọng là luật, là thiết chế, làm sao có muốn gian dối, tư lợi, lạm quyền, biển thủ,…cũng không được. Đó mới là điều quan trọng.

Loài người đã phát minh ra rất nhiều cơ chế để làm được việc trên, tôi sẽ có bài viết phân tích kỹ hơn, tựu trung lại: cạnh tranh tự do chính trị, tam quyền phân lập, báo chí tự do, kinh tế dân nắm, minh bạch trong công quyền, qui tắc xung đột lợi ích,… tất cả được luật hóa, kiểm soát, ràng buộc nhau, có thế và lực để thực thi (điều này vô cùng quan trọng, nó giải thích vì sao nhiều điều luật, nhiều bản hiến pháp được viết ra đẹp như mơ cũng chẳng ích gì, vì nó không đủ thế và lực để thực thi), không làm không được, hoàn toàn không có chuyện mong chờ “đạo đức cách mạng sáng ngời” thực thi. Người nắm quyền hành công phải chấp nhận tất cả các chế tài đó, không chấp nhận thì đi chỗ khác. Ai cũng biết ông Barack Obama, có vợ, hai con gái, thu nhập hàng năm bao nhiêu, đóng thuế bao nhiêu, rất rõ ràng, rất minh bạch. Nhiều lãnh đạo, điển hình như ông Putin, ông Nguyễn Tấn Dũng nhà ta, dấu biến vợ con, gia đình, tài sản, nói rằng bảo vệ cuộc sống riêng tư gia đình, rất là tù mù. Muốn nắm quyền, muốn làm chính trị, phải tuân thủ sự minh bạch, phải chấp nhận cuộc sống cá nhân, gia đình, tài sản bị người ta xăm soi, chịu được vậy thì làm, không chịu được thì xin mời đi chỗ khác, không có ngụy biện, trả treo gì hết. Tôi muốn có việc, muốn có tiền phải đi làm cho người ta, phải đủ ngày tám tiếng, phải làm xong việc, phải tuân thủ kỷ luật công ty, làm gì có chuyện vòng vo, giỡn chơi.

Thừa nhận bản ngã con người: chủ nghĩa cá nhân, để kiến giải những điều bất ổn trong xã hội Việt Nam hiện nay, đưa ra giải pháp khoa học để làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội phú cường. Xin đón đọc các bài viết tiếp theo.

Trân trọng

© Nguyễn Văn Thạnh
Read more…